BÀ HUYỆN THANH-QUAN

74. CẢNH CHIỀU HÔM

Chiều trời bảng-lảng bóng hoàng-hôn.
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn.

Gác mái, ngư-ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục-tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa, khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương-đài, người lữ-thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn-ôn.

CHÚ-THÍCH.— Viễn phố là bến xa.— Chương đài là con đường ở trong thành Trường-an, chỗ Liễu-thị vợ Hàn Hư đời Đường ở ngày xưa, nghĩa bóng là chỗ vợ ở.— Lữ-thứ là chỗ khách-sạn để người đi xa đến ở.

75. QUA ĐÈO-NGANG

Qua đỉnh Đèo-ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom-khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác-đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.

76. THĂNG-LONG THÀNH HOÀI CỔ

Tạo-hóa gây chi cuộc hí-trường.
Đến nay thấm-thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Ngõ cũ lâu-đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế-nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang-thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim-cổ,
Cảnh ấy, người đây luống đoạn-trường.

77. CHƠI CHÙA TRẤN-QUỐC

Trấn-bắc hành cung cỏ dãi-dầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau.
Một tòa sen tỏa hơi hương ngự,
Năm thức mây phong nếp áo chầu.
Sóng lớp phế-hưng coi vẫn rộn,
Chuông hồi kim-cổ lắng càng mau.
Người xưa cảnh cũ đâu đâu tá,
Khéo ngẩn-ngơ thay lũ trọc đầu.

78. CẢNH CHIỀU THU

Thánh-thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu-sơ.
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xóa tràng-giang phẳng-lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu,
Túi lưng phong-nguyệt nặng vì thơ.
Ồ hay, cảnh cũng ưa người nhỉ!
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn-ngơ.