Việt Hán văn khảo/II.K1

Lối không vần

1.— ĐỐI LIÊN.— Đối liên là một câu có hai vế đối nhau, hoặc 4, 5 chữ gọi là câu tiểu đối, hoặc 7 chữ gọi là câu đối thơ, hoặc mỗi vế chia làm hai đoạn, gọi là câu đối phú, hoặc dài hơn nữa cũng được.

Đối liên phải chọn từng chữ từng ý mới hay, hoặc lấy sẵn câu trong sách mà ra thì cũng phải lấy sẵn câu trong sách mà đối. Có câu tức cảnh là trông thấy cảnh gì đối ngay cảnh ấy, có câu triết tự là lấy ý trong hình chữ nghĩa chữ mà đối nhau, có câu đặt một lối cầu kỳ gian xáp cho người ta khó đối.

Người ta dùng câu đối để thử tài nhau, hoặc tự mình làm để tỏ cái ý của mình. Người lại dùng để mừng nhau, phúng nhau, hoặc là đề ở các nơi đình chùa.

Trích lục vài câu đối cổ
Câu tức cảnh

Di ỷ ỷ đồng, đồng ngoạn nguyệt,
Điểm đăng đăng các, các quan thư.

Vế trên nghĩa đen là dịch ghế dựa vào cây vông để cùng nhau xem giăng, vế dưới là đốt đèn lên gác để cùng xem sách. Nghĩa tuy tầm thường song cùng là cảnh bấy giờ và hai chữ « ỷ » hai chữ « đồng » trùng tiếng mà khác nghĩa, lại đối với hai chữ « đăng » hai chữ « các » cũng trùng tiếng mà khác nghĩa cho nên là khéo.

Câu đề trong đền Quan-công

Xích diện bỉnh xích tâm, kỵ xích-thố truy-phong, trì khu thời, vô vong xích-đế.

Thanh đăng quan thanh sử, trượng thanh-long yển-nguyệt, ẩn vi xứ, bất quý thanh-thiên.

Vế trên nghĩa là: bộ mặt đỏ giữ tấm lòng đỏ cưỡi ngựa xích-thố truy-phong, lúc ruổi rong, không quên về vua đỏ. Vế dưới nghĩa là: ngọn đèn xanh xem bộ sử xanh, cầm đao thanh-long-yển-nguyệt nơi kín đáo, chẳng thẹn với giời xanh. Câu này bao nhiêu chữ « xích » là đỏ đối với toàn chữ « thanh » là xanh, cho nên khéo.

Câu triết tự

Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi chúa nhập vi vương.

Thổ tiệt bán hoành, thuận giả thượng nghịch giả hạ.

Vế trên nghĩa là chữ « ngọc » giấu một nét chấm, để ra làm chữ « chúa », cất vào làm chữ « vương », có ý khoe mình tung-hoành khi làm chúa khi làm vua vậy.

Vế dưới là chữ « thổ » bỏ đi nửa nét ngang, trông xuôi là chữ « thượng » trông ngược là chữ « hạ », có ý nói thuận thì là trên mà nghịch thì là dưới vậy. Hai câu ấy là của quận Hẻo ra mà ông Thượng-quận đối lại, vừa chọi từng nét chữ, vừa có ý nhị, cho nên là tài.

Tam mộc xâm đình, tọa trước hảo hề nữ tử,

Trùng sơn xuất lộ, tẩu lai sứ giả lại nhân.

Vế trên nghĩa là ba cây mọc súm ở sân, có người con gái đẹp ngồi dưới; triết tự thì 3 chữ « mộc » là chữ « sâm », chữ « nữ » chữ « tử » là chữ « hảo ».

Vế dưới nghĩa là rẫy núi lộ ra con đường, có quan sứ-giả đi qua; triết tự thì hai chữ « sơn » là chữ « xuất », chữ « lại » chữ « nhân » là chữ « sứ ». Đây là của quan trạng Phùng-khắc-Khoan đi sứ Tầu, đường qua rặng núi, thấy người con gái ngồi chơi dưới gốc cây mà đọc nên câu này, người con gái ứng khẩu đối lại. Vừa hợp cảnh trước mắt lại vừa chọi từng nét chữ.

Các câu đối nôm
Câu tức cảnh

Gió dựa tường ngang lưng gió phẳng,
Giăng dòm cửa sổ mắt giăng vuông.

Ông quan ra cho người học trò

Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới.

Học trò đối ứng khẩu

Đá xanh xây cống, hòn dưới chống hòn trên.

Gửi sang lễ giỗ một người nhà giầu

Giấy có thiếu chi tiền, đem một vài quan coi chẳng tiện,
Sang không thì cũng bạc, kiếm giăm ba chữ gọi là tình.

Mừng người một mắt thi đỗ

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.
Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi.

Ả đầu thờ mẹ

Tống táng đã đành yên phách mẹ,
Tình tang thêm lại tủi đàn con.

Vợ thợ rèn khóc chồng

Gia tình phải lầm than, con thơ ấu lấy ai rèn cập.
Công việc đành bỏ bễ, vợ trẻ trung lắm vẻ đe loi.

Ông quan trí sĩ về nhà dạy học đề chỗ ngồi chơi
(Yên-đổ)

Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên; nào linh nào cả, nào bàn ba; xôi làm sao, thịt làm sao, đóng góp làm sao, thủ lợn nhìn lâu trơ cả mắt.

Già chẳng già thì trẻ, đàn tiểu-tử nhấp nhô đứng trước; này phú, này thơ, này đoạn một, bằng là thế, trắc là thế, lề lối là thế, mắt gà đeo mãi mỏi bên tai.

Tặng người lý trưởng

Trên quan dưới dân, sao cho trên thuận dưới hòa, lắm người yêu hơn nhiều người ghét;

Trong làng ngoài họ, quí hồ ngoài êm trong ấm, một câu nhịn là chín câu lành.

Câu ông Siêu ra

Thôi cũng may, công đăng hỏa có gì đâu, nhẹ nhàng nhờ phận lại nhờ duyên, quan trong năm bẩy tháng, quan ngoài tám chín niên, nào cờ nào biển, nào mũ nào đai, nào võng thắm lọng xanh, hèo hoa gươmg bạc; mặt tài tình mà gặp hội kiếm cung, khắp trời nam bể bắc cũng phong lưu, mùi thế nếm qua đã đủ.

Ông Quát đối

Quyết trả phắt, nợ tang bồng không để vướng, ngất ngưởng chẳng tiên mà chẳng tục, hầu gái một vài cô, hầu giai năm bẩy cậu; này cờ này kiệu, này rượu này thơ, này đàn ngọt hát hay, trà chuyên thuốc lá; tay khí vũ mà ngoài vòng cương tỏa, lấy gió nội trăng ngàn làm tri thức, tuổi giời thêm đó là hơn.