Nam Phong tạp chí/Quyển I/Số 1/Khoa-học bình-luận

   

KHOA-HỌC BÌNH-LUẬN


TẦU NGẦM TẦU LẶN

Cuộc chiến-tranh bên Âu-châu ngày nay thực đã phát-hiện ra nhiều sự mới lạ. Cái mới lạ hơn nhất là sự dùng tầu ngầm cùng tầu bay vậy. Cái lối đào hầm-hố để tương-trì nhau, dùng trọng-pháo để phá thành-quách, tuy ngày-xưa không có ghê-gớm dữ-dội như bây giờ, nhưng các trận đời trước cũng đã từng biết. Duy có tầu ngầm với tầu bay là mới xuất-hiện ra nới chiến-trường ở trên cạn cùng ở dưới nước lần này là lần thứ nhất. Hai thứ máy mới ấy thực là cái đặc-sắc của trận này. Các nhà làm sử đời sau muốn lấy cái khí-giới mà phân-biệt trận này với các trận trước, tất gọi trận này là « trận thứ nhất của tầu ngầm cùng tầu bay » vậy. Lần này ta hẵng bàn riêng về cái máy lội dưới bể, lần sau ta sẽ nói đến cái máy bay trên không. Vả cuộc chiến-tranh hiện bây giờ đương vào cái thời-kỳ dùng tầu ngầm rất dữ. Nước Đức từ đầu năm nay lập mưu đánh lừa các nước đồng-minh cùng các nước trung-lập, ngỏ nhờ điều-đình về việc giảng-hòa, lại đe rằng từ nay sẽ đánh toàn bằng tầu ngầm, bất cứ thương-thuyền hay chiến-thuyền, của địch-quốc hay của trung-lập, hễ gặp trên mặt bể thời đánh đắm không tha. Nhờ nói ngông thay ! Nhưng xem thế thì biết rằng lúc này thực là buổi thịnh-thời của tầu ngầm vậy. Bởi vậy chúng tôi lược-dịch trong các sách tây để tóm nhặt lấy những điều yếu-cần về cái lịch-sử, sự chế-tạo, cái nhiệm-vụ, sự hiệu-lực của các thứ tầu ngầm tầu lặn, cho người nước ta biết đại-khái cái tính-cách của một giống cá bể mới, cá phun lửa phun chết, nuốt hàng nghìn con người, nghìn triệu bạc, thực là giống cá riêng của cái đời « siêu văn-minh » này vậy. [1]

I

Xưa nay người ta vẫn hay ham-mê những cái mình không có, muốn chiếm-đoạt lấy những cái năng-lực mà tạo-vật không cho mình : như muốn bay lên trên không như con chim, lội xuống dưới nước như con cá. Bởi cái lòng ham-mê những sự không biết ấy mới sinh ra tìm-tòi cái cách để vượt không bằng tầu bay, vượt bể bằng tầu ngầm vậy.

Có một điều lạ nên nhận, là hai cái nghề bay nghề lội ấy thực là đồng thời với nhau. Cái tầu ngầm xuất-hiện ra trước nhất là cái tầu ngầm của người nước Mĩ tên là Bushnell, chế năm 1775. Quả khinh-khí-cầu thả lên cao trước nhất là quả khinh-khí-cầu của người Pháp tên là Pilâtre de Rozier cùng hầu-tước d'Arlandes năm 1784. Hai việc thực là cách nhau không mấy tí.

Được mười-lăm hai-mươi năm nay, tầu ngầm mới đem ứng-dụng ra thực-tế ; cũng vào khoảng bấy giờ thì cái lối « tự-do khinh-khí-cầu » mới thực là bắt đầu có hiệu-lực. Xem như thế thì biết hai nghề thực là đi ngang nhau vậy.

Nay ta hẵng kể qua lịch-sử nghề tầu ngầm, xem từ xưa đến nay đã tiến-bộ ra làm sao.

Cứ trong sách chép thì về thế-kỷ thứ 17 (năm 1624) đã có một người nước Hà-lan tên Van Drebbel chế ra một cái tầu đi ngầm dưới nước. Sách nói cả rằng tầu ấy có chạy dưới sông Tamise, mà vua nước Anh Jacques thứ II có xuống tầu ấy đi thử. Cái đó vị tất đã là thực. Sau còn nhiều người nữa nghĩ ra những kiểu tầu đi ngầm, nhưng không được mấy cái thành. Năm 1774 người nước Anh tên là Day đi thử một chiếc tầu ngầm bị chìm dưới bể, ở Plymouth. Đó là người đứng đầu tên trong cái sổ những người bị hại về nghề tầu ngầm vậy.

Nhưng cứ thực thì tị tổ nghề tầu ngầm là người Mĩ Bushnell. Hồi trận Độc-lập nước Mĩ, ông Bushnell chế ra năm 1775 một cái tầu ngầm đặt tên là Con rùa.

Cái tầu ngầm ấy có một chân-vịt ở đằng trước, một bánh-lái ở đằng sau, hai chỗ chứa nước ở trong đựng đầy nước, để cho cái sức chuyển nước [2] với cái sức nặng của tầu ngang nhau thì tầu mới chìm xuống dưới nước được. Có một cái ống-thụt để khi nào muốn nổi lên mặt nước thì thụt nước trong hai chỗ chứa ấy ra. Lại có một cái chân-vịt thứ nhì nữa, trụ thẳng để chuyển cho cái tầu chìm xuống dưới nước. Hai cái chân-vịt cùng bằng tay người vận-động cả. Cái tầu ngầm ấy không phải là một cái máy làm thử đâu ; chế ra là để chủ dùng về việc binh vậy. Muốn vào đánh chiếc chiến-thuyền nào thì người thủy-thủ ngồi trong tầu phải đưa tầu xuống dưới cái chiến-thuyền ấy, rồi đâm một cái khoan vào trong vỏ chiến-thuyền ; ở cái khoan ấy có buộc một cái giây đeo một hòm thuốc đạn, có cái máy như máy đồng-hồ, vặn ra thời trong năm phút truyền lửa vào thuốc đạn, bắn vào trong chiến-thuyền mà nổ tan ra vậy. — Ấy đại-khái cái tầu ngầm thứ nhất của ông Bushnell như thế. Cái tầu ấy nhỏ lắm, hình hơi như hình quả trứng, chỉ đủ chỗ cho một người ngồi thôi, nhưng trong có đủ cả cơ-quan cần-dùng : máy chuyển-động, máy thăng-bằng, máy chìm, lại thêm cái thủy-lôi nữa, tuy còn đơn-sơ lắm, nhưng cũng có thể gọi là một cái thủy-lôi được. Tầu Con rùa của ông Bushnell ấy chế ra giữa lúc trận Độc-lập nước Mĩ. Người Mĩ muốn thử dùng để đánh những chiến-thuyền của nước Anh, nhưng thí-nghiệm mấy lần không có công-hiệu gì bèn bỏ.

Sau ông Bushnell, lại có một người Mĩ nữa tên là Fulton cũng chế ra một cái tầu ngầm đặt hiệu là Nautilus. Ông Fulton chính là người nghĩ ra trước nhất cái tầu chạy bằng hơi nước. Hai lần ông sang hiến công cho nước Pháp để chế tầu ngầm, nhưng không đắc-dụng. Năm 1804 ông sang nước ANh, nước Anh cũng không muốn dùng tầu ngầm của ông, nhưng thưởng cho ông 37 vạn 5 nghìn phật-lăng. Từ bấy giờ không thấy ông làm tầu ngầm nữa. Xem thế thì biết nước Anh cho ông cái thưởng to như thế cũng là để ông đừng chế cái lối máy mới ấy mà đem bán cho nước khác thì có thể hại đến thủy-quân của mình vậy.

Năm 1851 có người Đức tên là Bauer chế thử một cái tầu ngầm đặt hiệu là Brandlaucher. Thí-nghiệm nhiều lần không được thành-hiệu lắm, sang hiến công cho nước Anh nước Nga cũng không đắt, đến năm 1875 nghèo khổ mà chết. Ông Bauer có nói mấy câu về tầu ngầm đối với những chiến-hạm nhớn, thực là tiên-tri cái hiệu-lực của tầu ngầm trong thế-kỷ ta vậy. Nói rằng : « Những chiến-hạm nhớn cùng những thiết-hạm các hạng, muốn cải-lương thế nào trong cách chế-tạo, rồi từ nay giở đi cũng là phải mỗi ngày một bỏ dần đi mà thôi. Cái tầu ngầm nhỏ với cái thiết-hạm nhớn đánh nhau, cái thiết-hạm tất phải thua, thế-kỷ sau này sẽ thấy két-cục sự cạnh-tranh hai lối tầu ấy... Các lối thiết-hạm cùng các lối tầu nhớn ngày nay cũng tức như là cái xe đám-ma để đem chôn những thuỷ-quân già-cỗi vậy. » — Nói thế thì cũng là quá đáng, nhưng thực là biết trước mà khéo đoán trong thế-kỷ này cái lối tầu ngầm sẽ thịnh-hành hơn các lối tầu khác. Sự chiến-tranh thực đã minh-chứng điều ấy vậy.

Năm 1860-1863, người Pháp tên là Bourgois (bấy giờ làm thủy-quân đại-úy, sau làm đến thủy-quân đại-tướng), cufnv với một nhà kỹ-sư tên là Brun chế ra một cái tầu ngầm đặt hiệu là Le Plongeur (Anh lặn). Mấy cái lối tầu ngầm nghĩ chế ra từ xưa đến nay đều bé cả. Tầu Le Plongeur chế thật to, trường 42 thước rưỡi, khoát 6 thước, sức chuyển nước 453 tấn. Nhưng vì to quá không được vững, khi chìm khi nổi không được đúng mực ; đến năm 1865 thì bỏ không thí-nghiệm nữa.

Hồi trận Nam-Bắc chiến-tranh ở nước Mĩ, có nhiều người Mĩ nghĩ ra mấy lối tầu ngầm để dùng về việc binh. Nhưng chưa được cái nào là trúng cách cả. Có một cái tầu ngầm hiệu David của quân phương Nam đánh đắm được một cái chiến thuyền của quân phương Bắc, nhưng chính mình cũng bị đắm theo. Đó là chiến-công thứ nhất của tầu ngầm vậy.

Sau đấy còn có một người Nga tên là Drzewiecki chế một lối tầu ngầm nữa chạy bằng điện. Nghề tầu ngầm bắt đầu dùng điện là tự đấy. Thử mấy lần được cả, chính-phủ nước nga bèn thuê ông Drzewiecki làm 52 chiếc cho nhà-nước. Tuy vậy cái lối tầu ấy còn nhỏ lắm (có 6 thước trường mà thôi), dùng thử thì được, nhưng dùng về việc quân thì e còn sớm quá.

Một người Pháp tên là Goubet bắt trước cái kiểu của nhà chế-tạo Nga mà chế ra một cái tầu ngầm đặt hiệu là tên mình *(tầu Goubet). Bộ Thủy-quân nước Pháp bắt thử mấy lần không được trúng cách lắm, đến năm 1891 không ưng nhận.

Từ năm 1881 đến năm 1887, một người Thụy-điển tên là Nordenfelt, lại chế ra một lối tầu ngầm nữa, thí-nghiệm mấy lần được cả, lừng-lẫy cả thế-giới. Nhưng xét ra cái lối ấy cũng còn khiếm-khuyến nhiều, như tầu đi ngầm dưới nước chưa được vững-vàng, khi chìm khi nổi không có điều-độ, trong tầu nóng lắm người không ở lâu được.

Sau đấy còn hai nhà chế-tạo tầu-ngầm nữa, một người nước Anh tên là Waddington (1885), một người nước Tây-ban-nha tên là Peral. Cái tầu ngầm của người Tây-ban-nha lúc mới chế ra lừng-lẫy cả trong nước. Tầu ấy xem ra cũng khá, nhưng từ đấy không thấy đem ra dùng bao giờ, hồi nước Tây đánh nhau với nước Mĩ cũng không thấy nói đến.

Rồi đến cái tầu ngầm hiệu Gymnote của người Pháp tên là Gustave Zédé. Tầu ấy nhỏ : có 20 thước trường, 1 thước 80 khoát. Chế năm 1886, thử năm 1889 ; lội giỏi lắm, đi dọc, đi ngang được cả. Từ đấy cái vấn-đề về sự đi ngầm dưới nước mới giải-quyết được thỏa-đáng vậy. Nhưng cái tầu ấy nhỏ quá. Đến sau chế một cái nhớn hơn, đặt hiệu là Gustave Zédé (tên nhà chế-tạo, lúc bấy giờ đã chết), dài 48 thước rưỡi ; thí-nghiệm ra thì lại hỏng không được bằng cái trước.

Bên Mĩ vào khoảng bấy giờ cũng có người tên là Holland chế ra một lối tầu ngầm nhỏ, rồi sau làm mẫu cho nhiều lối tầu mới của nước Mĩ, nước Anh, nước Nga, vân vân.

Hình thứ 1
Tầu ngầm lối Mĩ, thả năm 1913

Chẻ ngang hình tròn ; chỉ có một vỏ. — Hòm nước ở trong. — Sức truyển nước : trên mặt 390 tấn. dưới nước 520 tấn. — Sức nổi : 25 phân.

Hình thứ 2.
Tàu lặn kiểu Laubeuf, thả tự năm 1911 đến 1914
Chẻ ngang hình bồ dục. — Hai vỏ, một dầy, một mỏng. Sức nổi : 33 phân.

Năm 1896 bộ Thủy-quân nước Pháp có mở một cuộc thi tầu ngầm, để kén chọn lấy cái lối nào là hợp cách hơn. Bấy giờ một nhà kỹ-sư nước Pháp tên là Laubeuf đem ra ứng-thí một cái tầu ngầm đặt hiệu là Narval, chế theo một lối mới gọi là lối « tầu lặn » [3], trường 34 thước, khoát 4 thước, sức chuyển nước trên mặt 120 tấn, dưới nước 200 tấn. Cái tầu ấy hợp cách hơn cả, từ năm 1900 cho sáp-nhập vào thủy-quân nước Pháp. Nhiều lối tầu lặn của các nước về sau này cũng bắt chước lối ấy cả.

Từ bấy giờ nước Pháp trước nhất bắt đầu tổ-chức một hạm-đội tầu ngầm. Từ năm 1900 giở lên là cái thời-kỳ thuộc về lịch-sử, từ năm 1900 giở xuống là thời-kỳ thực-hành vậy.

Xem cái lịch-sử nghề tầu ngầm như trên kia thì biết phạm sự chế-tạo mới không phải là một mai mà thành được, phải kể hàng chục năm, hàng thế-kỷ vậy, mà những nhà chế-tạo không những là khổ về những sự khó-khăn trong cái nghề mới của mình, lại khổ vì người đương thời thường không hiểu mình, mà ít khi được người tán-trợ cho mình. Bởi thế mà nhiều nhà đến nửa chừng phải bỏ. Phải có cái nghị-lực, cái kiên-nhẫn rất mạnh mới theo đuổi cho cùng được. Sự tiến-bộ trong thế-giới bất quá cũng là gồm cái nghị-lực, cái kiên-nhẫn của những người đi tiên-phong trong các nghề, những người khai đường mở lối vậy.

II

Cái vấn-đề đem dùng tầu ngầm về việc binh mới thiết ra từ khi phát-minh được cái « tự-động ngư-lôi » (torpille automobile) vậy. Vào khoảng năm 1880, các nước Âu-châu chế ra được một cái khí-giới mới gọi là cái « tự-động ngư-lôi », cái khí-giới ấy cực mạnh, vì nó có thể đâm thủng một cái chiến-hạm mà đem thuốc-đạn vào nổ ngay treong ruột tầu, khiến cho tầu mạnh đến thế nào, thiết-giáp dầy đến bao nhiêu, cũng phải đến đắm vậy. Nhưng mà cái cự-li-độ của cái khí-giới ấy ngắn lắm. Muốn dùng nó cho có công-hiệu thì phải đến gần cái mục-đích, cách độ vài trăm thước mới được ; đứng xa thì cái thủy-lôi không bắn tới nó, hoặc tới mà cái sức nó kém đi vậy. Bởi thế mới bắt đầu chế ra một thứ tầu nhẹ, chạy rất nhanh, gọi là ngư-lôi-đĩnh (torpilleur), để dùng băn đêm cho khỏi bị trông thấy, khiến cho đến gần được cái chiến-hạm mình muốn đánh, ném ngư-lôi vào, rồi chạy đi thật nhanh. Nhưng cái lối tầu ấy cũng chưa được tiện, vì chỉ dùng được băn đêm, mà băn đếm nữa cũng không khỏi nguy-hiểm, vì có đèn chiếu soi thấy thì bị bắn mất. Vậy phải chế ra một thứ tầu khác có thể dùng băn ngày được, lặn xuống dưới cái chiến-hạm mà ném ngư-lôi ngay vào sườn thì mạnh hơn và công-hiệu hơn biết bao nhiêu. Tất phải dùng đến cái lối tầu-ngầm, vì chỉ có cái tầu ngầm là mới hợp cách, mới lợi-dụng « tự-động ngư-lôi » đến hết sức, đến cực-điểm được.

Lại giữa vào khoảng lúc bấy giờ cũng mới xuất-hiện ra cái lối máy chứa điện, có thể trữ cái sức điện cho bao giờ dùng cũng được, mà dùng trong một nơi kín không phát nóng, phát hơi độc gì cả. Nhờ có cái động cơ chạy bằng điện của nhà chế-tạo Gramme, thì cái sức điện ấy biến được ra sức vận-động quanh một cái trụ, trên cái trụ ấy cho quay một cái chân vịt : thế là cái vấn-đề đã tiệm quyết được vậy. Đã có cái động-lực đủ truyển-vận được một cái tầu thì chỉ còn phải nghĩ cách làm cho nó chìm xuống mà đi ngầm dưới nước được. Trong mười năm, từ năm 1886, các nhà chế-tạo tìm-tòi, nghiên-cứu mãi, nghiên cứu mãi, đến cái tầu-ngầm hiệu Gustave Zédé mới gọi là tiềm-tiệm được.

Đem một cái tầu vỏ bọc kín mít cả mà bỏ chìm xuống dưới nước thì tưởng cũng không lấy gì làm khó lắm, chỉ phải ngắn ở trong tầu lấy những khu riêng để chứa nước, khác nào như những hòm đựng nước có ống thông với ngoài, rồi mở cho nước chẩy vào đầy các hòm thì tầu đủ nặng mà chìm xuống vậy. Lúc nào muốn nổi lên mặt, hoặc muốn đứng lửng chừng thì có một cái ống thụt vặn bằng tay người thụt nước trong hòm ra thì tầu đủ nhẹ mà bổng lên. Truyển-vận cái tầu thì đã có cái động cơ chạy bằng điện ; lại còn phải khiến cho cái tầu lúc đi dưới nước cao thấp cho vừa độ, không nghiêng-ngửa mà được thẳng-bằng. Các nhà chế-tạo nghĩ mãi, sau mới chế ra một thứ như cái vây cá động đậy được, đính vào hai bên sườn tầu, tức là những cái bánh lái, nhưng bánh-lái đặt ngang, khiến cái tầu đi ngầm cũng như những cái bánh-lái đặt giọc khiến cái tầu đi nổi vậy. Nguyên cái lối vây cá ấy, trước đã dùng cho cái « tự-động ngư-lôi », vì cái « tự động ngư-lôi » cũng tức là một thứ tầu-ngầm nhỏ đi không có người vậy. Nhưng đem cái lối ấy ra mà ứng-dụng vào cái tầu-ngầm thực to hơn nhiều, thì cũng khó-khăn lắm. Phải chế đến mấy đôi bánh lái như thế — thường thì ba đôi, hai đôi hai đầu, một đôi ở giữa — thì mới đủ khiến cho cái tầu đi dưới nước cao thấp vừa độ mà không nghiêng chúi về một đầu nào.

Cái võ-trang của tầu ngầm là cái « tự-động ngư-lôi » vậy. Vì tầu ngầm chế ra mà dùng về việc binh cũng chỉ cốt là để lợi-dụng cái khí-giới mạnh ấy. Phóng cái ngư-lôi ấy ra thì hoặc bằng một cái ống đặt tự trong tầu, trong ống có không-khí ép, lúc mở ra thì không-khí rãn ra mà bắn mạnh cái ngư-lôi ra ngoài, hoặc bằng những máy có « lò-so » đặt ở ngoài vỏ tầu.

Nhưng cái tầu ngầm kín mít cả mà đi dưới nước thì biết đường nào mà đi ? Vậy muốn cho trông được ngoài mà ngoài không trông được mình, bèn đặt một cái ống thông tự trong tầu ra ngoài vỏ mà cao lên trên mặt nước, trong ống ấy sếp những kính ba góc thế nào cho phản-chiếu được cái hình-tượng ở ngoài vào trong tầu ; cái ống kính ấy gọi là « châu-thị-kính » (périscope, cái kính chiếu quanh). Cái ống ấy tức là cái mắt của tầu ngầm vậy. Nếu bị bắn vỡ thì cai tầu thành như người mù, không biết đường nào mà đi nữa, thật nguy-hiểm to. Nên các chiến-hạm đi bể thường phải nhìn kỹ trên mặt nước, hễ thấy cái ống kính ấy thập thò lên thì cố bắn cho vỡ. Những cái ống-kính trên mặt bể thì khác nào như cái kim trong chậu nước, mà cái kim nó cứ động đậy luôn, không đứng im một chỗ ; súng nào mà bắn cho trúng, bắn cho vỡ được. Nên đánh mù được cái tàu ngầm cũng không phải là một việc dễ vậy !

Đại-khái cái tầu ngầm như thế là thành thân vậy. Nếu đủ dùng để đánh thế công, cũng đủ dùng để giữ thế thủ được. Nhưng còn phải một điều chưa tiện, là những cái máy chứa điện ở trong tầu làm bằng những mảnh chì đẫm trong nước lưu-toan (acide sulfurique), thời nặng quá. Cái lối máy ấy thì thực là tiện để trử điện cho được nhiều mà có thể dùng được ngay. Nhưng mà cùng bấy nhiêu điện mà cái trọng-lượng của nó lại to quá. Như trong tầu ngầm hiệu Gustave Zédé có một bộ máy chứa điện thật to, để gần chật khắp cả tầu ; bởi thế mà tầu đi chậm không thể đi luôn được một ngày, đi cực nhanh không thể đi hơn được ba giờ đồng-hồ. Lại khi nào cái điện chứa trong máy dùng hết thì phải đến gần nhà máy nào mà lấy điện mới vào : bởi thế tầu ngầm không thể đi xa các cửa bể căn-cứ được.

Vậy muốn cho tầu ngầm dùng về thế công được, tất phải tăng thêm cái độ đường nó lên, khiến cho có thể đi xa ra ngoài bể mà bắt gặp được những chiến thuyền mình muốn hại. Ông Laubeuf ở nước Pháp, ông Holland ở nước Mĩ, hai người cfng một lúc bèn nghĩ ra đặt thêm vào cái trụ chân-vịt, ngoài cái động-cơ chạy điện để đi ngầm dưới nước, một cái động-cơ chạy nóng nữa để đi nổi trên mặt. Ông Laubeuf thì dùng một cái máy hơi nước có nồi nước đốt bằng dầu-hỏa ; ông Holland thì dùng cái động-cơ chạy bằng tinh-dầu (gazoline), nhẹ hơn nhưng không được cẩn-chắc bằng, vì cái tinh-dầu hay có bốc hơi cháy lên mà sinh hỏa-hoạn được. Nhưng hai đằng đều là tiện-lợi cả, mà tăng thêm cái trường-hợp của tầu ngầm ra được nhiều lắm ; vì từ nay có thể đem vào trong tầu đủ đồ « nhiên-liệu » (là đồ dùng để đốt, như dầu hỏa, tinh dầu, v.v.) để đi bể luôn trong mấy ngày được. Mà từ nay cái tầu ngầm được quyền độc-lập tự-trị, không phải tùy thuộc vào cửa bể hoặc nhà máy nào, vì cái động-cơ chạy điện có thể dùng làm « máy sinh điện » (générateur), nhờ cái động-cơ chạy nóng mà truyền sang cái máy chứa để thay cái điện cũ đã dùng hết. Cái bộ máy chứa cũng có thể giảm đi được, không hại gì, cho nó bớt nặng, vì trong tầu đã có cách thay điện lấy được, thì chỉ nên chưa cho đủ dùng mà thôi. Phàm những tầu ngầm của nước Pháp cùng các nước khác chế tự bấy giờ đều theo một phép ấy cả.

Sự tiến-bộ ấy đã là to, nhưng xét trong cách sang-nghĩ cái lối tầu ngầm của ông Laubeuf còn có một cái ưu-điểm nữa. Phàm tầu ngầm dùng thế công trong một cái trường to rộng phải có thể đi bể được lâu mà gồm đủ tư-cách như những tầu đi trên mặt nước cùng to bằng thế ; lại phải có thể người ở được, khiến cho thuyền-viên lợi-dụng được cái trường-hợp của mình cho đến kỳ cùng vậy. Những tầu ngầm chế ra lúc mới đầu, khi đi trên mặt nước, cái sức nổi nó kém lắm, không được đến hơn 5 phân (1 trăm phần 5 phần) cái thể-tích cả tầu. Ông Laubeuf bèn tăng thêm được lên đến 30 phân, khiến cho cái thân tầu nổi cao lên trên mặt nước, đi bể được thêm tiện-lợi hơn nhiều. Ông lại nghĩ ra cái cách đặt hòm chưa nước ra ngoài cái vỏ dầy, khiến cho cái hình tầu ở trong vẫn là hình cái thoi (hay là hình điếu sì-gà), vì cái hình ấy đã nghiệm ra chịu được áp-lực của nước mạnh hơn các hình khác, mà cái hình vỏ ở ngoài thì giống như hình các tầu đi trên mặt nước. Nhân thế mà trong tầu lại được thêm giộng ra, ở dễ chịu hơn. Cái lối ấy là cái lối « tầu lặn » vậy. cái tên tầu lặn, nay không thường dùng nữa mà gọi chung cả là « tầu ngầm », nhưng cái kiểu tầu lặn thì thực là thông dụng. Nói rút lại thì cái lối « tầu ngầm » là chủ một cái mục-đích như thế này : làm lấy một cái kiểu phóng-ngư-lôi vừa gồm đủ tư-cách cái tầu thường di trên mặt bể, mà lại vừa có cái năng-lực lặn xuống nước mà đi ngầm được, để vào công-kích mà không bị người ta trông thấy. (Xem nhời chua trên kia về hai lối tầu ngầm, tầu lặn).

Hết thảy những tầu ngầm chế ở nước Pháp từ năm 1904, cùng phần nhiều những tầu ngầm mới chế của các nước khác, đều là thuộc về kiểu tầu lặn cả. Xưa khi mới phát-minh ra cái lối tầu lặn, trong thủy-quân-giới các nước nghị-luận về cái vấn đề sức-nổi của tầu ngầm nhiều lắm, mỗi người bàn một khác, không giống ý-kiến nhau. Từ bấy đến nay kinh-nghiệm đã sác-chứng rằng tầu ngầm phải có cái sức-nổi mạnh thì mới có thể đem dùng ra công-thế được. Về cái phương-diện ấy thì các lối tầu ngầm thông dụng ngày nay không khác nhau mấy tí. Đến những cái tư-cách khác cần cho việc binh thì các lối tầu ngầm cũng đại-đồng tiểu-dị như nhau cả : như cái tốc-độ, cái trường-hợp trên mặt bể, cái tốc-độ, cái trường hợp trong khi lặn, đại-để cao thấp giộng hẹp cũng không hơn kém nhau là bao nhiêu. Dần dần, các thủy-quân chưa được bằng lòng, lại còn thi nhau mà muốn tăng-tiến phát-đạt những cái tư-cách ấy lên ; nhưng muốn tăn-tiến phát-đạt một cái nào mà vẫn giữ cái sức truyển nước cũ, thì những cái khác tất phải giảm kém đi, muốn tăng-tiến phát-đạt cả bấy nhiêu cái thì thế-tất phải tăng đến khung-khổ mà chế những tầu ngầm mỗi ngày một to lên vậy. Bởi thế như ở nước Pháp thoạt-tiên tầu hiệu Narval mới có 150 tấn, năm 1901 tầu Aigrelle tăng lên 230 tấn, năm 1904 tầu Circé 250 tấn, năm 1905 tầu Pluviôse 400 tấn, năm 1907 tầu Archimède 600 tấn, năm 1911 tầu Gustave-Zédé lối mới 800 tấn ; gần đây nghe nói còn có cái đến nghìn tấn cùng hơn một nghìn tấn. Các nước khác đại-để cũng tuần-tự mà tăng-gia như thế. Tầu ngầm cũng không tránh khỏi cái lệ thường của các chiến-hạm cùng thương-thuyền ngày nay, là mỗi ngày phải nhớn thêm mãi lên, không biết đến đâu là cùng vậy. Đâu đâu cũng vậy, hoặc là để tiện dùng về việc binh, hoặc là vĩ nhẽ khác, các nước đều thi nhau mà phát-đạt các lối tầu bể cho cực hoàn-toàn, nhất là phát-đạt cái sức đi, cái tốc-độ của tầu vậy. Như tầu Narval của ông Laubeuf khi xưa đi mỗi giờ trên mặt được 8 hải-lí, dưới nước được 5 hải-lí. Ngày nay các tầu ngầm đi trên mặt được hơn 20, đi dưới nước được ngót 15 hải-lí vậy. Chắc là chế những tầu to mà nhanh như thế thì kinh-phí phải nhiều hơn, nhưng lợi-dụng các khí-giới cũng lại tốt hơn nhiều.

Cái khí-giới ấy vẫn là cái « tự-động ngư-lôi » (torpille automobile). Những tầu ngầm nhớn thường có 6, 7 cái, đặt sẵn để lúc nào phóng ra cũng được. Ngư-lôi chế theo cái kiểu tối-tân thì chạy nhanh được 35 đến 40 hải-lí một giờ trong một khoảng từ 700 đến 800 thước (cái khoảng rộng đến mấy nghìn thước thì cái tốc-độ phải kém đi nhiều, mà phải dùng một cách lấy cữ riêng). Hiện nay thì muốn phóng cho trúng chỉ lại gần cái mục-đích là chắc hơn cả, nhưng nếu cái mục-đích ấy là một cái tầu đương chạy, mà chạy nhanh hơn cái tầu ngầm lội dưới nước, thì đến gần được cũng không dễ ; lại còn phải nhằm cho kỹ nữa, lượng cho đúng cái tốc-độ của cái tầu mình đuổi cùng cái phương-hướng nó đi ; bấy nhiêu cái mà đứng trong một cái tầu ngầm trông qua cái ống kính thì cũng khó lắm vậy. Ném một cái ngư-lôi cho có công-hiệu phải cho khéo tay, phải có may rủi mới được. Xưa nay biết bao nhiêu là ngư-lôi ném hỏng !

Nước Đức muốn dùng tầu ngầm để công-kích các thương-thuyền cho dễ, bèn đặt súng đại-bác vào những cái tầu ngầm mới chế. Tầu ngầm vốn không phải là để dùng đến đại-bác, mà thấy đại-bác đột-nhiên xuất-hiện ra ở tầu ngầm như thế, thì thực là một các hình-trạnh mới của cuộc hải-chiến đương bây giờ vậy. Các thủy-quân thấy thế lấy làm lạ lắm, đồ cho rằng người Đức dùng đại-bác thế là có ý để cho tầu ngầm lại chống-cự với tầu ngầm được. Nước Anh cũng đã bắt chước làm. Hiện nay những tầu ngầm mới chế của Đức có mang một khẩu đại-bác 76 li, lúc nổi thì dương ra, lúc lặn thì thu vào trong vỏ, cùng hai khẩu 37 li để thò ra ngoài. Những súng ấy cũng là những súng nhỏ cả, cái khẩu-kính nó vừa nhỏ, cái số nó vừa ít, không đủ giao-chiến với những tầu phóng ngư-lôi võ-trang tốt hơn, nhưng mà đủ hại những tầu buôn không có cách phòng-bị ; nước Đức được thế cũng là mãn-nguyện vậy.

PHẠM QUỲNH.


(Còn nửa nữa đăng kỳ sau).




Chú thích

  1. Trong bài này chúng tôi thường lược theo sách : Sous-marins et submersibles (Tầu ngầm và tầu lặn) của ông laubeuf (Paris, 1915). Ông nguyên làm chức kỹ-sư trong thủy-quân nước Pháp. Chính ông đã nghĩ-chế ra cái lối tầu ngâm bây giờ. Các nước, nhất là nước Đức, đều bắt chước mà theo kiểu của ông cả. Mấy cái hình trong bài này cũng vẽ theo trong sách ấy.
  2. Tầu đặt xuống nước thì đẩy nước đi mà đứng, một phần nước phải chuyển đi để lấy chỗ cho tầu. Thế gọi là cái « sức chuyển nước » của tầu.
  3. Tầu ngầm (sous-marin) với tầu lặn (submersible) thực là hai lối khác nhau. Đại-khái thì cái lối tầu ngầm thuần đi ngầm dưới nước, ít đi trên mặt ; lối tầu lặn thì to hơn, muốn đi trên mặt, đi dưới nước cũng dễ cả. Nhưng hai lối còn khác nhau ở cái cách chế, cái sức nổi, cái hình giạng. Cách chế thì ở tầu ngầm cái « hòm đựng nước » (Water ballasts) đặt ở trong vỏ, ở tầu lặn thì « hòm đựng nước » to hơn mà đặt ở ngoài vỏ. Bởi thế tầu lặn phải có hai vỏ : một vỏ trong phải chịu áp-lực của nước thì dầy ; một vỏ ngòai chịu áp-lực ít thì mỏng. Sức nổi thì tầu lặn mạnh hơn tầu ngầm. Tầu thường thì cái sức nổi bằng nửa (50 phân) cái thể-tích cả tầu. Tầu ngầm thì chỉ được 12 hay 13 phân mà thôi, ma tầu lặn thì được đến hơn 40 phân. Bởi thế mà tầu ngầm đi trên mặt nước thấp quá, cũng phải đóng kín mít như đi dưới nước vậy. Tầu lặn thì đi trên mặt nước cao như tầu thường, được nhiều điều tiện hơn. Hình-giạng thì tầu ngầm như hình điếu thuốc lá « sì-gà », chùng-chục giữa, thon hai đầu. Tầu lặn thì hình giạng như tầu thường đi trên mặt nước chẳng khác gì hình một cái ngư-lôi-đĩnh (torpilleur) vậy. Người ta vẫn thường chê cái lối tầu-lặn không được tiện, là đương đi trên mặt mà truyển ra đi ngầm thì phải đổi cái động-cơ chạy nóng (moteur thermique) mà dùng cái động-cơ chạy điện (moteur électrique), lại phải cho nhiều nước vào giữa hai lần vỏ thì tầu mới mất hết cái sức nổi mà chìm xuống được : làm bấy nhiêu việc thì phải mất nhiều thì giờ, trong lúc ấy thì cái tầu nguy mất. Trước kia thì có cái bất-tiện ấy thực. Như cái tầu lặng Narval mới chế ra phải đến nửa giờ đồng-hồ mới chìm được. Nhưng ngày nay đã tiến-bộ lắm rồi ; tầu lặn kiểu Pluviôse của nước Pháp mới chế năm 1905, đương nổi mà truyển ra chìm không đầy 5 phút đồng-hồ, chẳng kém gì tầu ngầm vậy.