Oán thán - 冤嘆
của Nguyễn Trãi

Bài này hẳn là làm trong khi Nguyễn Trãi bị nghi là liên can với Trần Nguyên Hãn mà bị bỏ ngục. Lê Thái Tổ nghi Trần Nguyên Hãn làm phản mà giết vào năm Thuận Thiên thứ 2 (1429).

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

浮俗升沉五十年
故山泉石負情緣
虛名實禍殊堪笑
眾謗孤忠絕可憐
數有難逃知有命
大如未喪也關天
獄中牘背空遭辱
金闕何由達寸箋

Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu ;
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh ;
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối[1] không tao nhục ;
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?

Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,
Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.
Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;
Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.
Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;
Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.
Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;
Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?

   




Chú thích

  1. Độc bối: nghĩa là lưng tờ giấy, theo Hán thư (Chu Bột liệt truyện) thì Chu Bột là công thần của Hán Cao Tổ, lại trừ được bọn họ Lữ đương mưu cướp ngôi, hập Hiếu Văn Đế mà khôi phục nhà Hán, được cử làm Hữu thừa tướng, sau về phong quốc làm Giáng hầu, bị vu là muốn làm phản nên bị hạ ngục. Bị ngục lại làm nhục, Bột lấy nghìn vàng đút cho ngục lại, ngục lại bèn lập mưu cứu Bột. Lúc thẩm vấn ngục lại viết chữ ở lưng tờ giấy án để khi cầm giấy đọc thì Bột ở trước thấy được chữ viết ở lưng giấy xui bột lấy công chúa là vợ của con trưởng Bột làm chứng. Nhờ thế mà Bột được khỏi tội