Đề Ngọc-thanh quán[1] - 題玉清館
của Nguyễn Trãi
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

紫府樓臺倚碧岑
十年今夕一登臨
松花落地金壇靜
磬響穿雲道院深
金鼎丹成人已去
黃梁夢覺事難尋
猿愁鶴怨無窮意
寒日蕭蕭竹隔林

Tử phủ[2] lâu đài ỷ bích sầm ;
Thập niên kim tịch nhất đăng lâm.
Tùng hoa lạc địa kim đàn tĩnh ;
Khánh hưởng[3] xuyên vân đạo viện thâm.
Kim đỉnh đơn[4] thành nhân dĩ khứ ;
Hoàng lương[5] mộng giác sự nan tầm.
Viên sầu hạc oán vô cùng ý ;
Hàn nhật tiêu tiêu trúc cách lâm.

Lâu đài phủ tía dựng trên núi biếc ;
Mười năm rồi tối nay mới lại lên thăm.
Hoa tùng rụng đất, kim đàn lặng lẽ ;
Tiếng khánh thấu mây, đạo viện thẳm sâu.
Đỉnh vàng nấu thuốc xong, người tiên đi mất ;
Kê vàng giấc mộng tỉnh, việc cũng khó tìm.
Vượn sầu hạc oán, ý vô cùng khôn xiết,
Ngày lạnh lao xao tiếng trúc cách rừng.

   




Chú thích

  1. Ngọc Thanh: quán ở xã Đạm Thủy huyện Đông Triều tỉnh Hải Dương
  2. Tử phủ: chỗ ở của các tiên thánh đạo giáo
  3. Bản Dương Bá Cung chép là « bích 碧 thanh »; bản Thi lục chép là « khánh 磬 thanh »
  4. Đơn: đơn dược, thuốc tiên luyện bằng đơn sa (sắc đỏ)
  5. Hoàng lương: theo điển chép trong truyện Chẩm trung ký đời Đường, có người vào nhà hàng đợi nhà hàng nấu kê, nằm ngủ thiếp đi, chiêm bao được giàu sang, khi tỉnh dậy thì nồi kê của nhà hàng vẫn chưa chín, do đó người ta thường nói mộng kê vàng (hoàng lương)