Đài gương truyện của Tản Đà
11. — Mẹ họ Trương, người họ Kim

氏金母章

11. — MẸ HỌ TRƯƠNG, NGƯỜI HỌ KIM

Người con gái họ Kim, lấy Trương-văn-Bảo mà chưa cưới. Văn-Bảo có vợ lẽ lấy trước, người họ Bao, có thai. Văn-Bảo ốm sắp chết, Kim-thị nghe tin, xin với bố mẹ để đến thăm. Bố mẹ nói:

— Hắn đã có vợ lẽ lấy trước, người họ Bao, đã có thai rồi; nay hắn lại sắp chết, con đi làm gì!

Thưa rằng: — Sắp chết mà không đi, thời lúc nào đi? Họ Bao có thai, khác gì thai của con!

Cứ cố xin, bố mẹ phải cho đi. Lúc đến nơi, mới giáp mặt mà Văn-Bảo chết. Kim-thị làm ma, ở tang, như vợ chồng đã lâu. Họ Bao sau đẻ được con giai, đặt tên là Luân, nhà nghèo không đón được thầy học, Kim-thị tự dạy cho học sách, rồi Luân đỗ tiến-sĩ, làm đến quan chủ-sự bộ Lễ. Bà Kim-thị đến khi ấy có làm bài thơ để nói chí-thú rằng:

« Ai bảo thiếp không chồng?
« Thiếp còn được thấy chồng đương chết.
« Ai bảo thiếp không con?
« Vợ lẽ đẻ con cũng như thiếp.

« Con đọc sách,
« Thiếp dệt gai;
« Đêm đêm tiếng quạ kêu ngoài buồng không.
« Con đã làm nên, thiếp đứng hóa;
« Suối vàng, chàng hỡi, yên chăng tá

誰云妾無夫。 
妾猶及見夫方徂。 
誰云妾無子。 
側室生兒與夫似。 
兒讀書。 
妾辟纑。 
空房夜夜聞啼鳥。 
兒能成名。妾不嫁。 
良人瞑目黃泉下。 

Thùy vân thiếp vô phu,
Thiếp do cập kiến phu phương tồ.
Thùy vân thiếp vô tử,
Chắc-thất sinh nhi dữ phu tự.
Nhi độc thư,
Thiếp tịch lô,
Không phòng dạ dạ văn đề ô.
Nhi năng thành danh, thiếp bất giá;
Lương-nhân minh mục hoàng-tuyền hạ.