Trường Sa Giả thái phó

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

絳灌武人何所知
孝文澹泊憚更為
立談不展平生學
事職何妨至死悲
天降奇才無用處
日斜異物有來時
湘潭咫尺相鄰近
千古相逢兩不違

Giáng Quán[1] võ nhân hà sở tri,
Hiếu Văn[2] đạm bạc đạn canh vi.
Lập đàn[3] bất triển bình sinh học,
Sự chức[4] hà phương chí tử bi.
Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ,
Nhật tà dị vật[5] hữu lai thì.
Tương Đàm[6] chỉ xích tương lân cận,
Thiên cổ tương phùng lưỡng bất vi.

Giáng Hầu, Quán Anh là những kẻ võ biền có biết gì
Vua Hiếu Văn không tha thiết gì, sợ thay đổi
Đứng suông mà bàn luận không thể bày tỏ cái học cả đời mình
Làm tròn chức phận có gì mà phải chịu chết đau thương
Trời cho tài lạ mà không có chỗ dùng
Chiều tà vật quái dị có lúc đến
Tương Đàm gần gũi trong gang tấc
(Sống cách nhau) nghìn năm, gặp gỡ, cả hai đâu có gì trái nghịch

   




Chú thích

  1. Tức Giáng Hầu 絳侯 và Quán Anh 灌嬰, hai võ tướng, khai quốc công thần, được Hán Văn Đế 漢文帝 trọng dụng
  2. Tức Hán Văn Đế 漢文帝 (179-159 trước công nguyên)
  3. Đứng mà bàn việc
  4. Làm hết chức vụ. Trong lúc Giả Nghị 賈誼 làm thái phó cho Lương Hoài Vương, Hoài Vương ngã ngựa chết. Giả Nghị buồn phiền nên sang năm sau thi chết lúc 33 tuổi
  5. Chỉ chim phục (một loại chim cú), khi chim cú bay vào nhà và đậu ngay chỗ ngồi của Giả Nghị thì ông cho là điềm gở, nhân đó làm bài Phục điểu phú để tự an ủi
  6. Tên huyện ở Hồ Nam, gần nơi Giả Nghị ở. Nơi này có sông Tương, phía thượng của sông gọi là Mịch La nơi Khuất Nguyên tự tử. Câu này có ý nói Giả Nghị có cùng một tâm sự như Khuất Nguyên, muốn cứu nước mà không được tin dùng; khi qua sông Tương, Giả Nghị làm bài phú điếu Khuất Nguyên để nói tâm sự mình