Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

蔡女生雛卓女奔
落花飛絮不勝言
千秋碑碣顯三烈
萬古綱常屬一門
地下相看無愧色
江邊何處吊貞魂
清時多少鬚如戟
說孝談忠各自尊

Thái nữ[1] sinh sồ Trác nữ[2] bôn,
Lạc hoa phi nhứ bất thăng ngôn.
Thiên thu bi kiệt hiển tam liệt,
Vạn cổ cương thường thuộc nhất môn.
Địa hạt tương khan vô quý sắc,
Giang biên hà xứ điếu trinh hồn?
Thanh thời đa thiểu tu như kích[3],
Thuyết hiếu đàm trung các tự tôn!

Nàng Thái sinh con, nàng Trác theo trai
Hoa rụng tơ bay nói sao cho xiết
Bia kệ nghìn năm tôn thờ ba người đàn bà tiết liệt
Dưới đất nhìn nhau, sắc mặt không hổ thẹn
Bên sông, đâu nơi viếng hồn trinh?
Thời bình lắm kẻ vểnh râu như ngọn kích
Nói hiếu bàn trung đều để suy tôn mình

   




Chú thích

  1. Chỉ Thái Diễm, tự Văn Cơ, con gái Thái Ung, cuối đời Đông Hán, gặp lúc loạn lạc, bị quân Hung nô bắt đi, sang ở Hung nô mười hai năm, sinh được hai con. Sau Tào Tháo, bạn của Thái Ung đem vàng bạc sang chuộc về. Thái nữ là tác giả bài "Bi phẫn thi"
  2. Chỉ Trác Văn Quân 卓文君, con gái Trác Vương Tôn 卓王孫, người đời Hán, góa chồng về nhà. Gặp ngày Tư Mã Tương Như 司馬相如 đến dự tiệc, thấy Trác Văn Quân, bèn gảy khúc "Phượng cầu hoàng" 鳳求凰 quyến rũ. Trác Văn Quân bỏ nhà đi theo. Theo thời xưa Thái Diễm và Trác Văn Quân là hai người đàn bà không giữ đúng lễ nghi phong tục thời đó
  3. Râu như mác. Sách Nam sử chép chuyện Chử Ngạn Hồi có câu: "Râu ông cứng như mác mà sao không có chí khí trượng phu", ý nói những người chỉ tốt mã bề ngoài kỳ thực vô tài