ISửa đổi

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

殿檜何年椎作薪
卻來依傍岳王墳
是非盡屬千年事
打罵何傷一假身
如此錚錚真鐵漢
奈何靡靡事金人
誰云於世無功烈
萬古猶能懼亂臣

Điện cối[1] hà niên chùy tác tân
Khước lai y bạng Nhạc vương phần
Thị phi tẫn thuộc thiên niên sự
Đả mạ hà thương nhất giả thân
Như thử tranh tranh chân thiết hán
Nại hà mĩ mĩ sự Kim nhân?
Thùy vân ư thế vô công liệt?
Vạn cổ vô năng cụ loạn thần

Cây cối bên điện vua bị chẻ làm củi năm nào
Sao đến nương tựa bên mộ Nhạc vương
Đúng hay sai, là chuyện nghìn năm phán xét
Đánh mắng đâu có làm đau đớn một cái thân giả
Coi cứng cáp thế kia thật là người sắt thép
Sao lại quỵ lụy đi thờ người Kim
Ai bảo nó không có công trạng gì ở đời?
Muôn đời lấy đó làm cho loạn thần phải sợ

IISửa đổi

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

格天閣毀玉樓殘
猶有頑皮在此間
一世死心懷大毒
千年生鐵負奇冤
獄中已濺生前血
階下徒誅死後奸
得與忠臣同不朽
齊天奇福太無端

Cách Thiên các[2] hủy ngọc lâu tàn
Do hữu ngoan bì tại thử gian
Nhất thế tử tâm hoài đại độc
Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan
Ngục trung dĩ tiễn sinh tiền huyết
Giai hạ đồ tru tử hậu gian
Đắc dữ trung thần đồn bất hủ
Tề thiên kỳ phúc thái vô đoan

Gác Cách Thiên đổ nát, lầu ngọc tan hoang
Vẫn còn tên gian ngu bướng càn rở ở đây
Cả một đời trái tim chết chứa nọc độc
Nghìn năm cục sắt sống mang nỗi oan kì lạ
Trong ngục (kẻ trung thần) khi sống đã đổ máu
Dưới thềm hành tội tên gian ác đã chết rồi
Được với bậc trung thần cùng bất hủ
Cái phúc lạ tày trời đó thật oái ăm vô lý

   




Chú thích

  1. Truyền thuyết ở bên điện vua Tống Huy Tông 宋徽宗 có một cây cối sinh ra nấm ngọc, người ta cho là điềm Tần Cối được trọng dụng, để sau làm mất nhà Tống. Sau cây cối đó bị chẻ làm củi
  2. Tần Cối ở gác Cách Thiên, do câu "Nhất đức cách thiên" 一德格天 (Đức cảm được lòng trời) của vua Tống Huy Tông đề