ISửa đổi

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

敝盡貂裘不復西
趙臺抵掌吐虹霓
縱橫自可愚庸主
富貴還能倨寡妻
六國印銷沙漠漠
一亭秋暮草萋萋
人生權利成無味
今古誰能破此迷

Tệ tận điêu cừu bất phục tê
Triệu đài để chưởng thổ hồng nghê
Tung hoành[1] tự khả ngu dung chúa
Phú quý hoàn năng cứ quả thê
Lục quốc ấn tiêu sa mạc mạc
Nhất đình thu mộ thảo thê thê
Nhân sinh quyền lợi thành vô vị
Kim cổ thùy năng phá thử mê

Rách hết áo cừu đen, không trở lại phía Tây (nhà Tần)
Nơi triều đường nước Triệu, đập tay thở ra cầu vồng (ra tài hùng biện)
Thuyết hợp Tung, liên Hoành chỉ phỉnh được vua chúa tầm thường
Giàu sang có thể ngạo nghễ với đàn bà góa
Ấn sáu nước tiêu tan, cát bụi mịt mùng
Một ngôi đình trong cảnh thu muộn, cỏ um tùm
Trong đời người, quyền lợi thật là vô vị
Xưa nay ai phá được điều mê muội đó

IISửa đổi

Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

季子黑裘敝
徒步擔囊歸
其妻不下機
其嫂不為炊
父母不復顧
相看如路岐
丈夫一失志
骨肉皆相離
一朝大運有時至
六印纏腰鳴得意
黄金百鎰璧百雙
從車千乘來鄉里
父母郊迎嫂膝行
妻見其夫側目視
平生志願畢於斯
前倨後恭言正鄙
合縱不在卻彊秦
但向所親驕富貴
刺股原為權利謀
嗟呼此人小哉氣
書中飽聞蘇秦名
道中卻過蘇秦亭
車馬金玉已無跡
亭前之草空青青
世人多讀蘇秦傳
猶為位勢富貴傷其生

Quý Tử hắc cừu tệ
Đồ bộ đảm nang quy
Kì thê bất hạ ki
Kì tẩu bất vi xuy
Phụ mẫu bất phục cố
Tương khán như lộ kì
Trượng phu nhất thất chí
Cốt nhục giai tương li
Nhất triêu đại vận hữu thì chí
Lục ấn triền yêu minh đắc ý
Hoàng kim bách dật bích bách song
Tòng xa thiên thặng lai hương lí
Phụ mẫu giao nghênh tẩu tất hành
Thê kiến kì phu trắc mục thị
Bình sinh chí nguyện tất ư tư
Tiền cứ hậu cung[2] ngôn chính bỉ
Hợp tung bất tại khước cường Tần
Đãn hướng sở thân kiêu phú quý
Thích cổ nguyên vi quyền lợi mưu
Ta hồ thử nhân tiểu tai khí
Thư trung bão văn Tô Tần danh
Đạo trung khước quá Tô Tần đình
Xa mã kim ngọc dĩ vô tích
Đình tiền chi thảo không thanh thanh
Thế nhân đa độc Tô Tần truyện
Do vi vị thế phú quý thương kì sinh

Quý Tử, áo cừu đen rách
Đành đi bộ mang gói về
Vợ không rời khung cửi
Chị không nấu cơm cho ăn
Cha mẹ không đoái nhìn
Như gặp người lạ ở ngã ba đường
Kẻ trượng phu khi thất chí
Người ruột thịt cũng đều lìa bỏ
Một sớm vận lớn thành công đến
Ấn tướng quốc sáu nước đeo trên lưng, được đắc ý
Hoàng kim trăm dật, ngọc bích trăm đôi
Nghìn cỗ xe theo trở về làng
Cha mẹ ra xa nghênh đón, chị dâu lết gối ra chào
Vợ thấy chồng lấm lét nhìn
Chí nguyện một đời chính là lúc đó
"Trước rẻ rúng, sau cung kính", lời nói thật đáng khinh
Kế hợp tung chẳng phải để chống nước Tần mạnh
Mà chỉ nhắm cho vênh vang phú quý với người thân
"Dùi đâm vào vế" cốt để mưu quyền lợi
Than ôi, khí độ người đó thật là nhỏ mọn
Trong sách nghe danh Tô Tần
Nay trên đường, lại qua đình Tô Tần
Ngựa xe vàng ngọc không còn dấu vết
Trước đình chỉ thấy cỏ mọc xanh xanh
Người đời lắm kẻ đọc truyện Tô Tần
Thế mà còn để địa vị, giàu sang làm hại đời mình

   




Chú thích

  1. Tung 縱 chính nghĩa là dọc, trái với hoành 橫 là ngang. Tô Tần trước đem thuyết liên hoành thuyết Tần Huệ Vương 秦惠王, vua Tần không nghe. Sau dùng kế liên hợp các nước dọc từ Bắc xuống Nam để chống với Tần ở phía Tây; vì vậy mà gọi là kế hợp tung
  2. Khi thành công, thấy chị lết gối lạy, Tô Tần hỏi: "Này chị! Sao trước ngạo mạn thế mà nay cung kính thế?". Người chị đáp: "Vì Quý Tử chức trọng mà nhiều tiền"