Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

Chung Tử[1] viên cầm tháo nam âm,
Trang Tích[2] bệnh chung do Việt ngâm.
Tứ hải phong trần gia quốc lệ,
Thập tuần lao ngục tử sinh tâm.
Bình Chương[3] di hận hà thời liễu,
Cô Trúc[4] cao phong bất khả tầm.
Ngã hữu thốn tâm vô ngữ dữ,
Hồng Sơn sơn hạ Quế giang thâm.

Chung Tử gảy đàn theo điệu Nam,
Trang Tích khi ốm ngâm nga bằng tiếng Việt.
Khắp bốn bể đầy gió bụi, nghĩ tình nhà việc nước mà rơi lệ,
Mười tuần nằm trong lao tù, lòng thấp thỏm chuyện sống chết.
Bao giờ mới hết mối hận Bình Chương?
Khó mà có được phong cách cao thượng của người nước Cô Trúc.
Ta có một chút tâm sự này, không biết bày tỏ cùng ai.
Dưới chân núi Hồng, sông Quế Giang sâu thẳm.

   




Chú thích

  1. Chung Tử tức Chung Nghi, người nước Sở, bị nước Tấn bắt. Người ta đưa đàn cho ông gảy, ông chỉ gảy những bài hát phương nam (nước Sở) gảy đàn theo điệu Nam, được người Tấn khen là người không vong bản
  2. Trang Tích: sống ở thời Xuân Thu, Trung Quốc. Ông là người nước Việt, làm quan nước Sở. Khi ông ốm, Sở Vương hỏi cận thần: "Tích là kẻ tầm thường ở đất Việt, nay làm quan nước Sở, được phú quý rồi, thì còn nhớ nước Việt nữa không?". Viên thị ngự đáp: "Phàm người ta có nhớ nước cũ hay không, thường tỏ ra trong lúc đau ốm. Nếu lúc này ông ta nói tiếng Việt tức là nhớ nước Việt, bằng không thì nói tiếng nước Sở". Sở Vương sai người lén nghe thì thấy Trang Tích nói tiếng Việt. Dùng tích này để ám chỉ người không quên quê hương, đất nước
  3. Bình Chương tức núi Bình chương. Tống sử chép: Trương Thế Kiệt, một tướng giỏi đời Tống, đồng thời với Văn Thiên Tường, Lục Tú Phu, phò Đế Bính chống quân Nguyên, mong khôi phục nhà Tống. Sau thua, ông Kiệt lên thuyền chạy đến núi Bình chương, gặp bão, thuyền đắm, ông chết và nhà Tống cũng mất
  4. Cô Trúc: một nước lập từ đời nhà Ân (nay thuộc tỉnh Trực Lệ, Trung Quốc). Khi nhà Ân bị nhà Chu chiếm lấy, Bá DiThúc Tề, con vua Cô Trúc không phục nhà Chu, lên ẩn ở núi Thú dương rồi nhịn đói mà chết, chứ không thèm ăn thóc nhà Chu