Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

白虹貫日天漫漫
風蕭蕭兮易水寒
歌聲慷慨金聲烈
荊軻從此入秦關
入秦關兮持匕首
六國深仇一引手
殿上卒然一震驚
左右手搏王環柱
階下舞陽如死人
神勇毅然惟獨君
縱然不殺秦皇帝
也算古今無比倫
怪底行蹤原市隱
曾與燕丹無夙分
殺身只為受人知
徒得田光輕一刎
可憐無辜樊於期
以頭借人無還時
一朝枉殺三烈士
咸陽天子終巍巍
燕郊一望皆塵土
秋日秋風滿官路
市上歌聲不復聞
易水波流自今古
故里枳棘縱復橫
只有殘碑猶未傾
莫道匕首更無濟
楬竿斬木為先聲

Bạch hồng[1] quán nhật thiên man man
Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy[2] hàn
Ca thanh khảng khái kim thanh liệt
Kinh Kha tòng thử nhập Tần quan
Nhập Tần quan hề trì chủy thủ
Lục quốc thâm cừu nhất dẫn thủ
Điện thượng thốt nhiên nhất chấn kinh
Tả hữu thủ bác vương hoàn trụ[3]
Giai hạ Vũ Dương[4] như tử nhân
Thần dũng nghị nhiên duy độc quân
Túng nhiên bất sát Tần hoàng đế
Dã toán cổ kim vô bỉ luân
Quái để hành tung nguyên thị ẩn
Tằng dữ Yên Đan[5] vô túc phận
Sát thân chỉ vi thụ nhân tri
Đồ đắc Điền Quang[6] khinh nhất vẫn
Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ[7]
Hàm Dương[8] thiên tử chung nguy nguy
Yến giao nhất vọng giai trần thổ
Thu nhật thu phong mãn quan lộ
Thị thượng ca thanh bất phục văn
Dịch Thủy ba lưu tự kim cổ
Cố lí chỉ cức tung phục hoành
Chỉ hữu tàn bi do vị khuynh
Mạc đạo chủy thủ canh vô tế
Yết can trảm mộc[9] vi tiên thanh

Cầu vồng trắng vắt ngang mặt trời, bầu trời mênh mang
Gió thổi hắt hiu, chừ, sông Dịch lạnh
Tiếng ca khảng khái, tiếng thép rít
Kinh Kha vào ải Tần ở chỗ này
Vào ải Tần, chừ, cầm chủy thủ
Thù sâu sáu nước gửi vào một tay
Trên cung điện bỗng nhiên kinh động
Quan tả hữu tay không bắt, vua chạy vòng quanh cột
Dưới thềm, Vũ Dương như người đã chết
Thần dũng hiên ngang chỉ có mình ông
Dù chẳng giết được Tần hoàng đế
Tính xưa nay không có người sánh bằng
Lạ thay, vốn dấu kín hành tung giữa chợ
Không từng có duyên nợ gì với Yên Đan
Liều thân chỉ vì được người biết đến mình
Luống được Điền Quang nhẹ đâm cổ chết
Khá thương Phàn Ô Kỳ chẳng tội tình gì
Cho mượn đầu không hẹn kỳ trả lại
Một sớm ba liệt sĩ chết oan
Mà ngôi thiên tử ở Hàm Dương cuối cùng vẫn cao ngất ngưởng
Đất Yên nhìn toàn đất bụi
Nắng thu gió thu đầy quan lộ
Trong chợ không còn nghe tiếng ca nữa
Sông Dịch chảy mãi xưa nay
Làng cũ cây chỉ, cây gai mọc ngang dọc
Chỉ có cái bia tàn chưa đổ
Chớ nói rằng cây chủy thủ chẳng ích gì
Nó dẫn đầu cho việc trương sào, chặt cây (làm cờ, làm giáo khởi nghĩa)

   




Chú thích

  1. Cầu vồng (mống) trắng. Tục ngữ Việt Nam: "Mống vàng thời nắng, mống trắng thời mưa. Mống cao gió táp, mống rạp mưa dầm"
  2. Sông phát nguyên từ Dịch Huyện, tỉnh Hà Bắc, chảy về phía đông, đến địa phận huyện An Định. Kinh Kha hát: "Gió vi vu chừ, sông Dịch lạnh tê, Tráng sĩ một đi chừ, không trở về" (Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy hàn, Tráng sĩ nhất khứ bất phục phản 風蕭蕭兮易水寒, 壯士一去不復返)
  3. Bị Kinh Kha đuổi theo để đâm, vua Tần chạy quanh cái cột
  4. Tần Vũ Dương được Thái tử Yên Đan 燕丹 cử đi theo giúp sức Kinh Kha. Tới trước bệ rồng, Vũ Dương thất sắc run rẩy
  5. Thái tử Đan, con của Yên Vương Hỉ 燕王喜, bị đưa sang Tần 秦 làm con tin, giận Tần Vương là bạn chơi hồi nhỏ, bỏ trốn về nước
  6. Người tiến cử Kinh Kha với Thái tử Đan. Tự đâm cổ chết để khích lệ Kinh Kha và tỏ chữ tín với Yên Đan
  7. Tức Điền Quang, Phan Ô Kỳ và Kinh Kha
  8. Kinh đô nước Tần. Tức Vị Thành cũ, ở phía đông bắc Trường An Thị 長安市, tỉnh Thiểm Tây 陝西 bây giờ. "Hàm Dương thiên tử" chỉ vua Tần
  9. Tần Thủy Hoàng vô đạo. Trần Thiệp cùng Ngô Quảng khởi nghĩa. Dân hưởng ứng chặt cây làm gậy, trương sào làm cờ