Hịch đánh Trịnh
của Nguyễn Hữu Chỉnh

Bài này hịch này tương truyền của Nguyễn Hữu Chỉnh thay mặt Nguyễn Huệ soạn ra năm Bính Ngọ (1786).

Chữ Nôm Chữ Quốc ngữ

生民沛餒民乄苉,丕皇天劺坦君師
厳亂乭篭亂買衝,意王者固番兵革
會順應世停特渚
役征誅峼呵悶凨
些低:稟氣俼南
本匇戶阮
唕祿搩沛剗役搩,璳番張子者恩韓
吿恱噖戼仌義噖,之底曹昿噽鑊漢
恨國傅歯峼背上
戼西山唱義勤王
苉卥垠焈廏堚匇,矯党逆撻謀岌紤
畱卥扅湄霪欺旱,矯窮人沙準淋炭
叿峼俼群咜頉富春
亁玌辸吏基圖華夏
儍別辻俼固斎,賊戶張櫲遍氾厰份
俸吹侙搩爭倈,碎茹夏沛收回侼搩
侙蚌鷸當群對炦
軐鯨狼澃窖緫碒
外瀓坘救援乄名,民驚亂舉兵弔罰
瑇亖岲承危底腋,準承平戼餒流離
宮笌城郭破凌凌
銃蓊船廵收汰汰
怽扱曲拯傷匇外族,乑窮塘訸獸時崔
玌騎纅群仌淁先君,吏劂讁彅焵澃堖
棊岲暴帞蘍儖項
椖峼圤搩沚衛劉
眾窮塘旗義剾衛投,戼軍數每挧沒盛
民飢饉感峼仁顒股,遣兵威強瀋強添
廣南它撅瀝樚塵
順化吏剾衛坡憥
南沒綨沁鯨滂焔,機太平蹱待乑媑
北亖城信雁荗安,僟救援憹鐭澃便
感功德噖黎敢負
弄權行戶鄭讱牐
辻皇帝撻空,甧搩隰牢絤獕鄧
罪黃巢拯固,峼貞挑緈侟屏
乨端王強煏腋無君
謀篡奪戼峼背父
長宮本汖哰卥嫡,權吒槒背泊澃乭
殿都雖珷岺仍英,命吒僲爭欺澃沛
碒拯兌彣坘顧命
炦儍鐭侟準梓宮
遣沒彈岞娋彈堏,剾岲孝堖招笹坦
底仍丗碎桰圤様,曢嘺冤乑動彣俼
志尊扶叿拯謀珄,時敕令銀錢儍待佊
詟虐杆群剾笹撨,義理儍俼坦群容
歄侊欮軍訸特官,意事意汖哰共邏
為廢立悶珄朱益
底傾危乄搩沛剗
円閉哰臣佞主惛,鎼平治峼俼罕悶
吏厳會兵驕民怨,嵦欦欮才奇沛歯
斫万全乑鑿廏衡山
兵即刻張帆北海
戈槣孟拂旗周武,歯壦處正篭斜
侟坦關凒馭漢皇,志決娎仁啚暴
插嵦本原峼寔
啔腬沛俌坘桰
岲向明沛瀓埃推,傷士女玄黃卥世
簕助順罕蜫丗別,....女些
埃別推理沛,決沒峼夏眾兮蘇
些拯負民肑,亁侼岲秋毫無犯
軐背反籒慣如苉
刼太平群底浌憻
搩潮東啻拯順匇,吏拒強僲篍壦振
帞奵廏塩和峢玉,凨賢愚坤扨歄俼
恩買威俌告坘恒
順呍逆默峼埃決.

Sinh dân phải nuôi dân làm trước, vậy hoàng thiên dựng đất quân sư
Gặp loạn đành dẹp loạn mới xong, ấy vương giả có phen binh cách
Hội thuận ứng thế đừng được chửa
Việc chinh tru lòng há muốn ru
Ta đây: Bẩm khí trời Nam[1]
Vốn dòng họ Nguyễn
Nhờ lộc nước phải lo việc nước, đòi phen Trương tử[2] giả ơn Hàn
Ăn cơm vua nên nhớ nghĩa vua, chi để Tào man[3] nhòm vạc Hán
Giận quốc phó[4] ra lòng bội thượng
Nên Tây Sơn xướng nghĩa cần vương
Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấp ghé
Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kẻo cùng nhân sa chốn lầm than
Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân
Ắt đấu cũ lại cơ đồ Hoa Hạ[5]
Nào biết ngôi trời có bảy[6][7], giặc họ Trương toan biến phiếm mười phần
Bỗng xui thế nước tranh ba, tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước
Thế bạng duật đương còn đối mặt[8]
Thói kình lang sao khéo lắng tai[9][10]
Ngoài mượn lời cứu viện làm danh, dân kinh loạn[11] cử binh điếu phạt[12]
Trong mấy chữ thừa nguy để dạ[13], chốn thừa bình nên nỗi lưu ly
Cung đền thành quách phá lâng lâng
Súng ống thuyền bè thu thảy thảy
Cơn gấp khúc chẳng thương dòng ngoại tộc, đã cùng đường đuổi thú thời thôi
Dấu cưỡi rồng còn nhớ đấng tiên quân, lại khoét lỗ bừa sâu sao nỡ
So chữ bạo lửa nồng quá Hạng[14]
Dò lòng người nước chảy về Lưu[15]
Chúng cùng đường cờ nghĩa đem về đầu, nên quân số mỗi ngày một thịnh
Dân cơ cận cảm lòng nhân ngóng cổ, khiến binh uy càng thấm càng thêm
Quảng Nam đà quét sạch bụi trần
Thuận Hóa lại đem về bờ cõi
Nam một dải tăm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần
Bắc mấy thành tin nhạn[16][17] chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao tiện
Cảm công đức vua Lê dám phụ
Lộng quyền hành họ Trịnh khó nghe
Ngôi hoàng đế đặt không, há nước thấp[18] lao lung thấy đặng
Tội Hoàng Sào chẳng có, lòng trinh thêu dệt vào bình[19][20]
Hiệu Đoan Vương[21] càng tỏ dạ vô quân
Mưu soán đoạt nên lòng bội phụ[22]
Trưởng cung[23] vốn xưa nay là đích, quyền cha trót bội bạc sao đành
Điện Đô[24] tuy bé nhỏ[25] nhưng anh, mệnh cha rắp tranh khi sao phải
Tai chẳng đoái đến lời cố mệnh
Mặt nào trông vào chốn tử cung[26]
Khiến một đàn con trẻ đàn bà, đem chữ hiếu nỡ gieo xuống đất
Để những kẻ tôi ngay người thẳng, tiếng kêu oan đã động đến trời
Chí tôn phù ví chẳng mưu mình, thì sắc lệnh ngân tiền nào đợi nó
Gươm ngược cán[27] còn đem xuống dưới, nghĩa lý nào trời đất còn dong
Lưới đứt giềng quân đuổi được quan, ấy sự ấy xưa nay cũng lạ
Vì phế lập muốn mình cho ích
Để khuynh nguy làm nước phải lo
Vả bấy nay thần nịnh chúa hôn, mở bình trị lòng trời hẳn muốn
Lại gặp hội binh kiêu dân oán, sửa mối giềng tài cả phải ra
Chước vạn toàn đã tạc đá Hoành Sơn
Binh tức khắc giương buồm Bắc Hải[28]
Qua sông Mạnh[29] phất cờ Chu Vũ[30], ra tay sửa chính dẹp tà
Vào đất Quan[31] thét ngựa Hán Hoàng[32], quyết chí lấy nhân đổi bạo
Sắp sửa vốn nguyên lòng thật
Giữ gìn phải ngỏ lời ngay
Chữ hướng minh phải mượn ai suy, thương sĩ nữ huyền hoàng[33] là thế
Máy trợ thuận hẳn nhiều kẻ biết, Tần lại dân ngưu tửu nữa ta[34][35]
Ai biết suy lẽ phải, quyết một lòng hạ chúng hề tô[36]
Ta chẳng phụ dân lành, ắt hai chữ thu hào vô phạm
Thói bội phản chớ quen như trước
Chút thái bình còn để dài lâu
Nước triều đông ví chẳng thuận dòng, lại cự cưỡng rắp giơ tay chắn
Lửa cháy đá lỡ hòa lầm ngọc, dù hiền ngu khôn lọt lưới trời
Ân với uy ngỏ cáo lời hằng
Thuận hay nghịch mặc lòng ai quyết.

   




Chú thích

  1. Lê quý dật sử viết "Đây: Cấu khí trời Nam"
  2. Trương Tử: Trương Lương bề tôi nước Hàn, vì vua Hàn mà diệt Tần và Sở.
  3. Tào Man: Tào Tháo tiểu tự A Man, làm thừa tướng cho Hán Hiến đế, tính gian hùng luôn nhòm ngó ngôi nhà Hán.
  4. Quốc phó: Trương Phúc Loan.
  5. Hạ: một trong ba triều đại của 3 thời thượng cổ Trung Quốc (Hạ, Thương, Chu).
  6. Lê quý dật sử viết "Tộ đời có bảy"
  7. Làm vua bảy đời. Theo Nam hà tiệp lục đến Nguyễn Phúc Khoát, có câu sấm “Nam hà hữu thất thế hoàn trung đô” (Nam hà sau bảy đời trở về trung đô) ý nói chúa Nguyễn chỉ yên ổn trong bảy đời.
  8. Bạng duật: con trai và con chim dẽ giun (chỉ chúa Nguyễn Phúc Thuần và Tây Sơn), ý nói sự đối đầu, mâu thuẫn.
  9. Lê quý dật sử viết "đường lang" nghĩa là con bọ ngựa.
  10. Chỉ họ Trịnh đứng ngoài nghe ngóng xem nhà Nguyễn và Tây Sơn đánh nhau.
  11. Dân trải qua loạn lạc.
  12. Tác giả tố cáo họ Trịnh mang danh đi cứu giúp nhà Nguyễn nhưng nhân lúc nhà Nguyễn gặp cơn hoạn nạn mà đánh cướp lấy.
  13. Lê quý dật sử viết "Trong cưu chư thừa nguy để dạn"
  14. Hạng: tức Hạng Vũ, vua nước Sở.
  15. Lưu: tức Lưu Bang, vua nhà Hán.
  16. Lê quý dật sử viết "chằm nhạn"
  17. Lấy ý thơ Hồng Nhạn trong Kinh Thi: Hồng nhạn vu phi (chim hồng chim nhạn bay đi), Tập vu trung trạch (đậu ở trong đầm). Ý nói người dân khổ sở vì loạn lạc.
  18. Thấp: tức thấp hèn. Tác giả quan niệm họ Trịnh thấp hèn, nhỏ bé, lấn bức vua Lê.
  19. Lê quý dật sử viết "Tội hoàng trừ chẳng có, mang lòng thêu diệt vào hình"
  20. Hoàng trừ: tức thái tử Lê Duy Vĩ. Ở đây nói về việc thái tử Lê Duy Vĩ bị Trịnh Sâm vu tội thông dâm, bắt thắt cổ tự tử.
  21. Đoan vương: Trịnh Tông.
  22. Trịnh Tông làm trái lời di chúc của cha (Trịnh Sâm), cướp ngôi của em là Trịnh Cán.
  23. Trưởng cung: Chỉ Trịnh Cán. Cán tuy là nhỏ tuổi hơn Tông nhưng được Trịnh Sâm lập làm con trưởng.
  24. Hiệu của Trịnh Cán.
  25. Lê quý dật sử viết "bé mọn"
  26. Tử cung: quan tài. Trịnh Sâm chết còn quàn trong phủ, đã xảy việc tranh ngôi giữa Trịnh Tông và Trịnh Cán.
  27. Ý nói quyền hành trong tay loạn thần.
  28. Chỉ quân đội đánh đâu được đấy.
  29. Sông Mạnh: nơi vua nhà Chu họp chư hầu đánh vua Trụ.
  30. Vũ vương nhà Chu.
  31. Đất Quan: tức đất Quan Trung, nơi Hán Cao Tổ đánh Tần.
  32. Hán Cao Tổ.
  33. Huyền hoàng: tức lụa đen, lụa vàng. Khi Vũ Vương nhà Chu đánh vua Trụ, sĩ nữ nhà Thương đem lụa đen lụa vàng ra đón quân đội nhà vua.
  34. Khi Hán Cao Tổ đánh Tần, dân nhà Tần đem trâu, rượu khao quân đội nhà vua.
  35. Quốc âm phú còn có câu: “Tuy rằng uy đãng định vốn nhơn nhơn, song cơ dạ nõi hằng hoài đau đáu.
  36. Hạ chúng hề tô: Kinh Thư có câu: “Hề ngã hậu, hậu lai kỳ tô” (đợi vua ta, vua ta đến cứu sống ta). Ý nói nghĩa sĩ đem lòng cứu vớt dân khỏi lầm than.


 

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1929, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.