Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

百萬旌麾北渡河
燕交地下有沉戈
悠悠事後二千載
蕩蕩城邊一片沙
噲伍未成甘碌碌
君前猶自善多多
可憐十世山河在
厚誓徒延絳灌家

Bách vạn tinh huy bắc độ Hà
Yên[1] giao địa hạ hữu trầm qua
Du du sự hậu nhị thiên tải
Đãng đãng thành biên nhất phiến sa
Khoái[2] ngũ vị thành cam lục lục
Quân tiền do tự thiện đa đa[3]
Khả liên thập thế sơn hà tại
Hậu thệ đồ duyên Giáng Quán gia[4].

Trăm vạn cờ xí vượt sông Hoàng Hà phía bắc
Dưới đất Yên còn vùi gươm giáo
Việc xa xôi xảy ra đã hai nghìn năm
Mênh mông ở bên thành một bãi cát
Cùng hàng với bọn Phàn Khoái, chưa thành công, cam chịu tầm thường
Trước mặt vua vẫn tự cho (có tài cầm quân), "càng nhiều càng tốt"
Thương thay, sơn hà nhà Hán đã được mười đời rồi
Nhưng chỉ có Giáng hầu, Quán Anh là được hưởng lời thề nồng hậu (của vua Hán Cao Tổ)

   




Chú thích

  1. Tên đất ở đông bắc Trung Quốc, gần Bắc Kinh ngày nay
  2. Tức Phàn Khoái 樊噲, tướng dưới quyền Hàn Tín. Khi Hàn Tín bị giáng chức, nói: "Ra mình ngang hàng với bọn Khoái!" (xích chi vi Khoái ngũ 斥之為噲伍)
  3. Hán Cao Tổ 漢高祖 hỏi Hàn Tín: "Như tài ta thì chỉ huy được bao nhiêu quân?". Đáp: "Bệ hạ bất quá chỉ huy được mười vạn là cùng". Lại hỏi: "Còn ông?". Đáp: "Thần thì càng nhiều quân càng hay"
  4. Hán Cao Tổ phong tước cho các công thần thề rằng: "Bao giờ sông Hoàng Hà chỉ còn bé như chiếc dải áo, núi Thái Sơn mòn đi chỉ còn bằng viên đá mài, nước vẫn còn truyền cho con cháu". Nhưng trong số công thần đó, chỉ có Giáng hầu Chu Bột và Quán Anh được hưởng phú quý. Còn Trương Lương bỏ đi tu tiên, Tiêu Hà bị hạ ngục, Hàn Tín bị giết chết