Chúng tử tế mẫu văn

Chúng tử tế mẫu văn
của Nguyễn Đình Chiểu

Được chép trong một tập sách Hán Nôm do Phòng Bảo tồn bảo tàng Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Long An sưu tầm được. Cao Tự Thanh phiên âm và đăng trên tạp chí Hán Nôm số 2 năm 1988

Hỡi ôi!

Dấu hạc xa miền ; tiếng quyên não tức.

Sách nói hoa phút bay thời nước cũng chảy, đổi dời theo phận, máy trời đất khéo xoay ; ai rằng cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, ngơ ngác nỗi mình, tình mẹ con vội đứt.

Nhớ linh xưa:

Trọn đạo tam tòng ; giữ phần tứ đức.

Ở ruộng nương theo nghề ruộng, dư lúa dư tiền ; lấy chồng lo việc nhà chồng, hết lòng hết sức.

Khi tuổi trẻ cười cay nói đắng, mấy lần sinh sản, đám dây dưa rậm rạp trước sân ; lối mình già đứt thúng vỡ chình, chút phận quả sương, chiếu thuyền bách linh đình giữa vực.

Ngàn muôn việc nhọc nhằn đã lắm nỗi, nhắm bề ăn ở ước ngỡ lâu còn ; bẩy mươi năm sung sướng đã mấy hồi, coi chứng bịnh đau ai dè vội mất.

Hốt thuốc thương hàm hay lắm, thầy Hương có thầy ba cũng có, trên giường thiếp thiếp, lẽ hơn thua chưa trối lại vài lời ; nghe tin báo bổ trông hoài, con trai xa con gái cũng xa, hơi thở chừng chừng, lòng thương nhớ thẩy đều trong một giấc.

Những tưởng mất cha còn mẹ, lúc nghiêng nghèo cho trẻ đặng nhở hơi ; há đành bỏ cháu giã con đi, cơn ly loạn sao già đành nhắm mắt.

Nào thủa trước miệng nhai cơm, lưỡi lừa cá chắt chiu bé lớn, đều nuôi cho nên vóc nên vai ; đến bây giờ đầu đội vải, lưng vấn rơm, kêu khóc trong ngoài, biết đâu đặng thấy mày thấy mặt.

Cám là cám ba năm bồng ẵm, công so bốn bể chứa đầy ; thương là thương mười tháng cưu mang, ơn vì năm non đè chặt. Nghĩ lại:

Nhau rún còn chôn làng Long Đức, Mẹ về đâu mà lá cỏ ngọn cây rầu rầu ; xương thịt đành gửi đất Thanh Ba mẹ về đâu mà tiếng gió tiếng trăng vặc vặc.

Cậu còn đó, dì còn đó, bà con bên ngoại đều còn đó, mẹ đi đâu mà nhà sau cửa trước quạnh hiu ; chú ở đây, cô ở đây, họ hàng bên nội cũng ở đây, mẹ đi đâu mà chiếu trải giường thờ lạnh ngắt.

Cháu nội có, cháu ngoại có, bầy chát cũng có, hết trông bà miếng ngon miếng ngọt dành cho ; dâu lớn kia, dâu nhỏ kia, mấy rể còn kia, hết trông mẹ bề dại bề khôn vẻ nhắc.

Muốn tron thảo dâng cơm dâng nước, ôi mẹ ôi rày còn chi nữa của sắm mà nuôi ; những trông khi nương cửa nương nhà, ý cha chả nói tới chừng nào ruột đau như cắt.

Đội mũ mẫn than thân là gái, lấy chi đền chín chữ cù lao ; chống gậy vông tủi phận là trai, lấy chi trả một câu võng cực.

Đã biết không trở lại, âm dương hai ngả, mẹ lìa con vọi vọi chín tầng trời ; phần thương mất cũng như còn, hiếu kính một lòng, con xa mẹ sùn sùn ba thước đất.

Sống gặp nhà nghèo ; thác nhằm buổi giặc.

Mơ màng phách quế lúc năm canh ; thấp thoáng hồn hoa cơn sáu khắc.

Từ đây rồi phận trai đứa theo làng đứa theo lính, bơ vơ non Dĩ sương tản khói tan ; từ rồi đây phận gái đứa theo chồng đứa theo con, vắng vẻ nhà huyên đèn lờ hương tắt.

Ba câu điện tửu, gọi là bầy nghĩa báo thân ; một tiệp sơ ngu, ngõ đặng nhờ ơn âm chất.

Hỡi ôi thương thay !

Có linh xin hưởng !

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1929, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.