Ca tịch
của Nguyễn Khuyến, do Nguyễn Khuyến dịch
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Diễn Nôm

清吟一曲幾回聞,
半入江流半入雲。
去晉已應憐靜節,
出胡誰復憶昭君。
玉關折柳難為調,
幽徑栽蘭知自芬。
嘆息佳人多不遇,
近燈對酌具慇勤。

Thanh ngâm nhất khúc kỷ hồi văn,
Bán nhập giang lưu, bán nhập vân.
Khứ Tấn dĩ ưng liên Tĩnh Tiết,
Xuất Hồ thùy phục ức Chiêu Quân.
Ngọc Quan chiết liễu nan vi điệu,
U kính tài lan tri tự phân.
Thán tức giai nhân đa bất ngộ,
Cận đăng đối chước cụ ân cần.

Một khúc đêm khuya tiếng đã đầy,
Nửa trên mặt nước nửa tầng mây.
Nghĩ mình vườn cũ vừa lui bước,
Ngán kẻ phương trời chẳng lựa dây.
Bẻ liễu Thành Đài[1] lâu cũng dẹp,
Trồng lan ngõ tối[2] ngát nào hay.
Từ xưa mặt ngọc[3] ai là chẳng,
Chén rượu bên đèn luống tỉnh say.

   




Chú thích

  1. Tác giả dẫn điển Hàn Hoành đời Đường lấy một danh kỹ là Liễu thị ở phố Chương Đài, Trường An, sau đi làm quan xa, để Liễu thị ở lại đó ba năm, không đón đi được, nên làm bài Chương Đài liễu để thăm. Ý muốn nói trong lúc thời cuộc đổi thay, những cảnh bất trắc cũng chẳng lạ lùng gì. Hai bản chữ Nôm viết là "Chương dài", có lẽ nhầm.
  2. Câu này viết thoát ý từ "Chi Lan sinh vu thâm cốc, bất dĩ vô nhân nhi bất phương; quân tử tu Đạo lập đức, bất vi cùng khốn nhi cải tiết" (dịch nghĩa là: Cỏ Chi Lan sống ở hang núi sâu, không vì ở chốn không người mà không thơm; người quân tử tu Đạo lập đức, không vì khốn cùng mà thay đổi) của Khổng Tử, hàm ý là hoa lan mà sinh trong hang tối thì dẫu có thơm tho cũng chẳng ai biết.
  3. Chỉ người đàn bà đẹp.

 

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1929, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.