Điếu Trương Định
của Nguyễn Đình Chiểu

                  I
Trong Nam tên họ nổi như cồn
Mấy trận Gò-công nức tiếng đồn.
Dấu đạn hỡi rêm tàu bạch-quỉ[1]
Hơi gươm thêm rạng thể hoàng-môn[2]
Ngọn cờ ứng nghĩa[3] trời chưa bẻ
Cái ấn bình tây[4] đất vội chôn.
Nỡ khiến anh-hùng rơi giọt lụy
Lâm-dâm ba chữ điếu linh-hồn.

                  II
Linh-hồn nay đã tách theo thần
Sáu tỉnh còn roi dấu tướng-quân.
Mực sở lãnh-binh lờ mắt giặc
Son bằng[5] ứng nghĩa thắm lòng dân.
Giúp đời dốc trọn ơn nam-tử[6]
Ngay chúa nào lo tiếng nghịch-thần[7]
Ốc[8] ngỡ tướng tinh[9] rày trổ mặt,
Giúp xong nhà nước buổi gian-truân[10]

                  III
Gian-truân kể xiết mấy nhiêu lần,
Vì nước đành trao một tấm thân.
Nghe chốn Lý-nhân người sảng sốt
Nhìn cồn Đa-phước kiểng[11] bâng-khuâng.
Bát cơm Kê-lữ chi sờn buổi,
Mảnh áo Mông-nhung chẳng nệ phần.
Chí dốc ra tay nâng vạc ngã,
Trước sau cho trọn chữ quân-thần.

                  IV
Quân-thần còn gánh nặng hai vai,
Lỡ dở công-trình hệ bởi ai?
Trăm đám mộ binh vầy lớn nhỏ,
Một gò cô-lũy[12] chống hôm mai.
Lương-tiền nhà ruộng ba mùa trước,
Thuốc đạn ghe buôn bốn bể ngoài.
May rủi phải chăng trời cũng biết,
Một tay chống-chỏi mấy năm dài.

                  V
Năm dài những mảng ngóng tin vua,
Nín nhục thầm toan lẽ được thua.
U kế năm hàng còn chỗ đoái,
Ngô Tôn[13] trăm chước đợi ngày đua.
Bày lòng thần-tử[14] vài lời sớ,
Giữ mối giang-san mấy điệu bùa.
Phải đặng tuổi trời cho mượn số
Cuộc nầy ngay-vạy có phân-bua.

                  VI
Phân-bua trời đất biết cho lòng,
Công-việc đâu đâu cũng muốn xong.
Cám nỗi nhà nghiên lăm chống cột,
Nài bao bóng xế luống day đòng.
Đồng-nai, chợ Mỹ lo nhiều phía,
Bến-nghé, Sài-gòn kể mấy đông.
Dẫu biết dùng binh nhờ đất hiểm,
Chẳng đành xa bỏ cõi Gò-công.

                  VII
Gò-bông binh-giáp ngó chàng-ràng,
Đoái Bắc trông Nam luống thở-than.
Trên trại Đồn-đàn hoa khóc chủ,
Dưới vàm Bao-ngược sóng kêu quan.
Mây giăng Truông Cóc đường quân vắng,
Trăng xế Gò Rùa tiếng đẩu tan.
Mấy dặm non sông đều xửng vững,
Nạn dân ách nước để ai toan?

                  VIII
Ai toan cho thấu máy trời sâu,
Sự thế nghe thôi đá lắc đầu[15].
Giặc cỏ om-sòm mưa lại nhóm,
Binh sương lác-đác nắng liền thâu.
Cờ lau đã xếp trên Giồng Cát,
Trống sấm còn gầm dưới Cửa Khâu.
Cảnh ấy những mơ người ấy lại,
Hội nầy nào thấy tướng-quân đâu?

                  IX
Tướng-quân đâu hỡi có hay chăng?
Sáu ải cơ-đồ nửa đã ngăn[16]
Cám nỗi kiến-ong ra sức dẹp
Quản bao sâu-mọt chịu lời nhăng.
Đá kêu rêu mọc bia Dương Nghiệp[17]
Cỏ úa hoa tàn mả Lý Lăng[18]
Thôi vậy thì vậy thôi cũng vậy
Anh-hùng đến thế dễ ai dằn.

                  X
Dễ ai dằn-thúc lối sau nầy
Trời bởi chưa cho vội đổi xây.
Thà buổi trường-sa da ngựa bọc
Khỏi nơi Đạo Chích tiếng muồng rầy.
Lục-lâm mấy chặng hoa sầu bạn
Thủy-hử vì đâu nhạn rẽ bầy.
Hay vậy cõi biên rong vó ký[19]
Náu-nương chờ vận có đâu vầy.

                  XI
Đâu vầy sấm chớp nổ thình-lình
Gió bặt thêm buồn mấy đạo binh.
Ngựa trạm xăng-văng miền Bắc-khuyết[20]
Xe nhung ngơ-ngẩn cõi Tây-ninh.
Bài văn phá lỗ[21] cờ chưa tế,
Tấm bảng phong thần gió đã kinh.
Trong cuộc còn nhiều tay tướng-tá,
Lời nguyền trung-nghĩa há làm thinh.

                  XII
Làm thinh hổ đứng giữa hai ngôi[22]
Nếm mật từ đây khó nỗi ngồi[23]
Mũi giáo Thi Toàn[24] đừng để sét
Lưỡi gươm Dự Nhượng[25] phải toan giồi.
Đánh Kim chi sá thằng Lưu Dự[26]
Giúp Tống xin phò gã Nhạc Lôi[27]
Vâng hộ nước Nam về một mối,
Nghìn năm miễu tặng rạng công tôi.

   




Chú thích

  1. Bạch-quỉ: quỉ trắng. Ám-chỉ quân Pháp.
  2. Hoàng-môn: Chức quan giữ việc chầu-chựcm bảo-vệ vua.
  3. Ứng nghĩa: Vì nghĩa mà đứng lên đáp lời non núi.
  4. Trương Định được ban ấn bình tây.
  5. Các văn-bằng đóng dấu son phát cho dân quê ứng nghĩa
  6. Nam-tử: Kẻ trai tráng.
  7. Nghịch-thần: Kẻ bề tôi phản-nghịch.
  8. In trí.
  9. Tướng tinh: Vì sao bổn-mệnh của vũ-tướng.
  10. Gian-truân: Vất-vả.
  11. Do chữ cảnh đọc trại ra. Cũng như thị-thành đọc trại là thị-thiềng.
  12. Cô lũy: đồn lẻ-loi.
  13. Ngô Khởi và Tôn Võ, hai nhân-vật thiện cầm binh, có làm ra sách binh-pháp. Ngô Khởi là người nước Vệ, giúp nước Lỗ có danh. Tôn Võ thì giúp Ngô; đến nay "Binh thư Tôn Tử" vẫn được truyền-tụng, và các danh tướng thế-giới đều dùng làm sách gối đầu giường.
  14. Thần-tử: tôi con. Lòng cung-kính đối với vua.
  15. Người học-trò giỏi của sư Cưu-Ma La-Thập đi truyền giáo, đời không ai buồn để ý, bèn vào núi Hổ-khưu, sắp các hòn đá ở xung quanh làm thính-giả, rồi ung-dung giảng kinh Nát-bàn. Nhà sư bèn hỏi lời giảng có hợp với lòng Phật không, thì các hòn đá đều gật đầu.
  16. Sáu tỉnh Nam-Việt đã bị Pháp chiếm hết ba.
  17. Một danh-tướng đời Tống.
  18. Tướng đời Hán Võ-đế, năm 99 TCN đánh Hung-nô, kiệt lực phải quy hàng.
  19. : Ngựa tốt, ngựa chạy một ngày hằng nghìn dặm (thiên lý mã). Ký túc: tức vó ngựa Ký, nói người tài giỏi.
  20. Bắc-khuyết: Cửa phía Bắc, cửa nhà vua. Triều Lê, vua ngồi hướng về Nam, các quan chầu vua quay mặt về Bắc, nên gọi cửa nhà vua là Bắc-khuyết.
  21. Lỗ: Đứa giặc. Giặc-giã.
  22. Người cùng với trời và đất là ba ngôi gọi là tam tài. Đây nói hổ đứng giữa trời đất.
  23. Vua Câu-Tiễn nước Việt bị Ngô Phù Sai đánh lấy nước, thân bị giam lỏng ở Cối-kê, thời thường nằm trên gai và nếm mật đắng, để tự nhắc phải sớm liệu báo thù.
  24. Một viên tướng giỏi kết nghĩa anh em với Nhạc Phi đời Tống. Nhạc Phi bị gian-thần Tần Cối mưu giết chết. Thi Toàn đón đường ám-sát Tần Cối chẳng may bại-lộ bị giết.
  25. Người đời Chiến-quốc, hết lòng trả thù cho chủ.
  26. Một tên phản-thần đời Tống.
  27. Con Nhạc Phi.