Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt

泰山山色滿青徐
千里山東縱目初
何處聖賢松柏下
別城絃誦曫鄒餘
他鄉顏狀頻開鏡
客路塵埃半讀書
行色匆匆歲雲暮
不禁憑式歎歸與

Thái Sơn sơn sắc mãn Thanh, Từ,
Thiên lý Sơn Đông[1] tống mục sơ.
Hà xứ thánh hiền[2] tùng bách hạ,
Biệt thành huyền tụng Lỗ, Trâu dư.
Tha hương nhan trạng tần khai kính,
Khách lộ trần ai bán độc thư.
Hành sắc thông thông tuế vân mộ[3],
Bất câm bằng thức thán "quy dư"[4].

   




Chú thích

  1. Đoàn đi sứ, Nguyễn Du cầm đầu, khi đi thì đi từ Thăng Long đến Võ Xương, rồi lên ngả Sơn Tây để đến Yên Kinh. Đến khi về lại xuống Sơn Đông đến Võ Xương để về Thăng Long
  2. Chỉ Mạnh TửKhổng Tử
  3. Năm đã muộn. Đoàn sứ giả về nước vào cuối năm Quí Dậu (1813)
  4. "Về thôi!". Khổng Tử chu du khắp các nước chư hầu, không được vua nào tin dùng, nên than: "Quy dư! Quy dư!". Nhân đi qua đất cũ của thánh hiền, nên mới nảy ra tứ "soi gương", "đọc sách". Và vì đất cũ của thánh hiền, nên dù thánh hiền không còn thấy, mà dư phong vẫn còn nơi tiếng đàn, tiếng đọc sách