Việt Nam sử lược/Quyển II/1971/Phần V/Chương XII

CHƯƠNG XII

CUỘC BẢO-HỘ CỦA NƯỚC PHÁP

  1. Sự phế-lập ở Huế: vua Hiệp-hòa
  2. Quân Pháp lấy cửa Thuận-an
  3. Hòa-ước năm quí-mùi (1883)
  4. Việc ở Bắc-kỳ
  5. Vua Hiệp-hòa bị giết
  6. Vua Kiến-phúc
  7. Sự đánh lấy các tỉnh ở Bắc-kỳ
  8. Lấy tỉnh Sơn-tây
  9. Lấy thành Bắc-ninh
  10. Lấy Hưng-hóa
  11. Lấy Tuyên-quang
  12. Hòa-ước Fournier
  13. Hòa-ước Patenôtre tháng 6 năm giáp-thân
  14. Việc Triều-chính ở Huế
  15. Vua Hàm-nghi

1. SỰ PHẾ-LẬP Ở HUẾ: VUA HIỆP-HÒA. Bản-triều nhà Nguyễn truyền ngôi đến hết đời vua Dực-tông thì mất quyền tự-chủ. Nước Nam tự đó thuộc về nước Pháp bảo-hộ. Nghĩa là ngôi nhà vua tuy vẫn còn, nhưng quyền chính-trị phải theo chính-phủ Bảo-hộ xếp-đặt.

Ấy cũng vì thời-đại biến-đổi mà người mình không biết biến-đổi, cho nên nước mình mới thành ra suy-đồi. Vả lúc ấy ở ngoài Bắc-kỳ thì rối-loạn, ở trong Triều thì quyền thần chuyên-chế, bởi vậy cho nên lại sinh ra lắm việc khó-khăn[1].

Vua Dực-tông không có con, nuôi 3 người cháu làm con nuôi: trưởng là ông Dục-đức 育 德[2], phong Thụy-quốc-công 瑞 國 公, thứ là ông Chánh-mông 正 蒙, phong Kiên-giang quận-công 堅 江 郡 公, ba là ông Dưỡng-thiện 養 善. Khi ngài sắp mất, có để di-chiếu nói rằng: đức-tính ông Dục-đức không đáng làm vua, mà ý ngài muốn lập ông Dưỡng-thiện, nhưng vì ông ấy còn bé, mà việc nước cần phải có vua lớn tuổi, cho nên phải lập con trưởng. Ngài lại cho Trần tiễn Thành 陳 踐 誠, Nguyễn văn Tường 阮 文 祥 và Tôn thất Thuyết 尊 室 說 làm phụ-chính.

Được ba ngày thì Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết đổi tờ di-chiếu, bỏ ông Dục-đức mà lập em vua Dực-tông là Lạng-quốc-công 朗 國 公 lên làm vua. Triều-thần ngơ-ngác, không ai dám nói gì, chỉ có quan ngự-sử Phan đình Phùng 潘 廷 逢 đứng dậy can rằng: « Tự-quân chưa có tội gì mà làm sự phế-lập như thế, thì sao phải lẽ ». Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết truyền đem bắt giam ông Phan đình Phùng, rồi cách chức đuổi về.

Lạng-quốc-công, húy Hồng Dật 洪 佚 lên làm vua, đặt niên-hiệu là Hiệp-hòa 協 和. Còn ông Dục-đức thì đem giam ở Dục-đức giảng đường 育 德 講 堂.

2. QUÂN PHÁP LẤY CỬA THUẬN-AN. Vua Hiệp-hòa vừa lập xong, thì viên Toàn-quyền mới là ông Harmand đến Hải-phòng, rồi hội hải-quân thiếu-tướng Courbet và lục-quân thiếu-tướng Bouet, để bàn-định mọi việc.

Định một mặt thì thiếu-tướng Bouet đem quân lên đánh lấy đồn phủ Hoài; một mặt thì thiếu-tướng Courbet đem tàu vào đánh lấy cửa Thuận-an, để bắt triều-đình phải nhận nước Pháp bảo-hộ.

Ngày 12 tháng 7, thiếu-tướng Bouet lên đánh quân cờ đen ở mạn làng Vòng. Hai bên đánh nhau non ba ngày trời. Sau quân cờ đen phải lùi lên đóng ở đồn Phùng. Nhưng vì lúc bấy giờ nước lũ lên to, đê vỡ cho nên quân Pháp không tiến lên được.

Ngày 16, lục-quân trung-tá Brionval ở Hải-phòng đem quân lên lấy thành Hải-dương.

Quân Pháp tuy thắng, nhưng quân cờ đen còn mạnh, nên chi thiếu-tướng Bouet phải điện về Paris xin thêm quân tiếp-ứng.

Trong khi lục-quân thiếu-tướng Bouet tiến quân đánh tại Bắc-kỳ, thì hải-quân thiếu-tướng Courbet cùng với viên Toàn-quyền Harmand đem tàu vào đánh cửa Thuận-an, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng bảy thì thành Trấn-hải vỡ. Quan trấn thành là Lê Sĩ 黎 仕, Lê Chuẩn 黎 準 tử trận, Lâm Hoành 林 宏, Trần thúc Nhẫn 陳 叔 訒 thì nhảy xuống sông tự tử.

3. HÒA-ƯỚC NĂM QUÍ-MÙI (1883). Triều-đình thấy sự nguy-cấp, liền sai quan ra xin hòa. Viên Toàn-quyền Harmand bắt quan ta phải giải binh cả mọi nơi, rồi cùng với ông De Champeaux lên Huế để nghị hòa. Triều-đình sai quan Hiệp-biện hưu-trí là Trần đình Túc 陳 廷 肅 làm Khâm-sai toàn quyền, và Nguyễn trọng Hợp 阮 仲 合 làm phó, để cùng với quan Pháp hội-nghị.

Ngày 23 tháng 7 thì tờ hòa-ước lập xong, có chữ ông Harmand, ông De Champeaux, ông Trần đình Túc và ông Nguyễn trọng Hợp cùng ký.

Tờ hòa-ước ấy có 27 khoản: Khoản thứ nhất nói rằng: Nước Nam chịu nhận nước Pháp bảo-hộ, có việc gì giao-thiệp với ngoại-quốc, thì phải do nước Pháp chủ-trương. Khoản thứ hai: Tỉnh Bình-thuận thuộc về Nam-kỳ. Khoản thứ ba: Quân Pháp đóng giữ ở núi đèo Ngang và ở Thuận-an. Khoản thứ sáu: Từ tỉnh Khánh-hòa ra đến đèo Ngang thì quyền cai-trị thuộc về Triều-đình.

Những khoản sau nói rằng viên khâm-sứ ở Huế được quyền tự-do ra vào yết-kiến nhà vua. Còn đất Bắc-kỳ kể từ đèo Ngang trở ra thì nước Pháp đặt công-sứ[3] ở các tỉnh để kiểm soát công-việc của quan Việt-nam. Nhưng người Pháp không dự vào việc cai-trị ở trong hạt.

Từ hòa-ước ấy ký xong, gửi về Paris để chính-phủ duyệt y, rồi mới hỗ-giao, nghĩa là mới tuyên-cáo cho thiên-hạ biết. Ông De Champeaux ở lại Huế làm khâm-sứ, viên Toàn-quyền Harmand ra Bắc-kỳ để kinh-lý việc đánh-dẹp.

4. VIỆC Ở BẮC-KỲ. Triều-đình ở Huế nhận hòa-ước xong rồi, sai quan Lại-bộ Thượng-thư Nguyễn trọng Hợp làm Khâm-sai đại-thần, quan Công-bộ Thượng-thư Trần văn Chuẩn 陳 文 準 và quan Lại-bộ tham-tri Hồng Phì 洪 肥 làm phó khâm-sai, ra Bắc-kỳ để cùng với viên Toàn-quyền Harmand hiểu-dụ nhân-dân và bãi quân-thứ ở các nơi.

Bấy giờ ở Bắc-kỳ có quan nhà Thanh là Đường cảnh Tùng 唐 景 松 đóng ở Sơn-tây, Từ diên Húc 徐 延 旭 đóng ở Bắc-ninh, lại có quân cờ đen của Lưu vĩnh Phúc 劉 永 福 đóng ở đồn Phùng.

Triều-đình tuy có chỉ ra truyền cho quan ta phải rút quân về Huế, nhưng quan ta còn có nhiều người muốn ỷ nước Tàu mà chống giữ với quân Pháp, cho nên không ai phụng chỉ. Bởi vậy cuộc chiến-tranh ở Bắc-kỳ mãi không xong được.

5. VUA HIỆP-HÒA BỊ GIẾT. Ở trong Huế thì vua Hiệp-hòa cũng muốn nhờ chính-sách bảo-hộ để cho yên ngôi vua, nhưng các quan có nhiều người không chịu, và lại thấy Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết chuyên chế thái quá, muốn dùng kế mà trừ bỏ đi, bèn đổi Nguyễn văn Tường sang làm Binh-bộ Thượng-thư, Tôn thất Thuyết làm Lại-bộ Thượng-thư, để bớt binh-quyền của Tôn thất Thuyết.

Hai người thấy vua có lòng nghi, sợ để lâu thành vạ, bèn vào tâu với bà Từ-dụ Thái-hậu 慈 裕 太 后 để lập ông Dưỡng-thiện 養 善 là con nuôi thứ ba vua Dực-tông, rồi bắt vua Hiệp-hòa đem ra phủ ông Dục-đức cho uống thuốc độc chết. Vua Hiệp-hòa làm vua được hơn 4 tháng, sử gọi là Phế-đế 廢 帝.

Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết đã giết vua Hiệp-hòa rồi, lại thấy quan Phụ-chính Trần tiễn Thành 陳 踐 誠 không theo ý mình, cũng sai người giết nốt.

6. VUA KIẾN-PHÚC. Ngày mồng 7 tháng 10 năm quí-mùi (1883), ông Dưỡng-thiện, húy là Ưng Đăng 膺 登 lên ngôi làm vua, đặt niên-hiệu là Kiến-phúc 建 福. Bấy giờ ngài mới có 15 tuổi, việc gì cũng ở Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết quyết-định cả.

Ở Bắc-kỳ thì Hoàng kế Viêm 黄 繼 炎 còn đóng tại Sơn-tây, Trương quang Đản 張 光 犢 còn đóng tại Bắc-ninh, cùng với quân Tàu chống giữ quân Pháp. Viên Khâm-sứ ở Huế lấy điều đó trách Triều-đình. Triều-đình lại có dụ ra truyền cho Hoàng kế Viêm và Trương quang Đản phải về Kinh.

Các quan bấy giờ cũng có ông về, cũng có ông nộp ấn trả Triều-đình, rồi hoặc đi chiêu-mộ những nghĩa-dũng, hoặc đi theo quan nhà Thanh, để chống nhau với quân Pháp. Bấy giờ có quan đề-đốc Nam-định là Tạ Hiện 謝 現 lĩnh chức đề-đốc của Tàu, và quan án-sát-sứ Phạm vụ Mẫn 范 務 敏 và quan tri-phủ Kiến-xương Hoàng văn Hòe 黄 文 槐 bỏ chức mà đi; quan tán-tương quân-vụ ở Sơn-tây là Nguyễn thiện Thuật 阮 善 述 bỏ về Hải-dương, đi mộ quân để chống với quân Pháp.

7. SỰ ĐÁNH LẤY CÁC TỈNH Ở BẮC-KỲ. Viên Toàn-quyền Harmand ra Bắc-kỳ sửa-sang sự cai-trị, lập ra những đội lính tuần-cảnh, tục gọi là lính khố xanh, để phòng giữ các nơi, và bãi lính cờ vàng của thiếu tướng Bouet đã cho mộ được mấy trăm, vì những lính ấy hay cướp phá dân-gian. Nhưng vì viên Toàn-quyền xâm vào quyền quan binh, cho nên thiếu-tướng Bouet lấy làm bất bình.

Ngày mồng một tháng 8, thiếu-tướng đem quân lên đánh cờ đen ở đồn Phùng. Hai bên đánh nhau rất dữ. Quân cờ đen tuy phải lui, nhưng chưa thực thua. Thiếu-tướng thấy đánh giặc chưa được và lại có ý bất hòa với viên Toàn-quyền, bèn xin về Pháp, giao binh-quyền lại cho lục-quân đại-tá Bichot.

Được ít lâu, có quân tiếp ở Sài-gòn ra, đại-tá Bichot bèn vào lấy tỉnh Ninh-bình.

8. LẤY SƠN-TÂY. Ngày 25 tháng 9, chính-phủ Pháp điện sang cho hải-quân thiếu-tướng Courbet làm thống-đốc quân-vụ, kiêm chức Toàn-quyền ở Bắc-kỳ. Viên nguyên Toàn-quyền Harmand xin về Pháp.

Từ đó việc binh-nhung, việc cai-trị và việc giao-thiệp, ở cả tay thiếu-tướng Courbet. Trong khi thiếu-tướng còn phải sửa-sang mọi việc và đợi quân tiếp ở Pháp sang thì quan ta đem quân về đánh Hải-dương, đốt phá cả phố-xá. Quan Pháp nghi tỉnh-thần thông với văn-thân, bèn bắt đày vào Côn-lôn.

Đến khi thiếu-tướng tiếp được quân ở bên Pháp sang, số quân Pháp ở Bắc-kỳ bấy giờ được hơn 9.000 người, thiếu-tướng chia ra làm hai đạo, đem cả thủy-bộ tiến lên đánh thành Sơn-tây. Đánh từ sáng ngày 13 đến hết ngày 16 mới hạ được thành. Quân cờ đen chống giữ hăng lắm, nhưng quân Tàu và quân ta thấy súng của Pháp bắn lên mạnh quá, đều bỏ thành rút lên mạn ngược, quân cờ đen cũng phải chạy theo. Trận ấy quân Pháp bị 83 người tử trận và 319 người bị thương.

9. LẤY THÀNH BẮC-NINH. Quân Pháp tuy đã lấy được Sơn-tây, nhưng quân Tàu càng ngày càng sang đông, thiếu-tướng phải chờ có quân tiếp thêm mới đi đánh chỗ khác. Bên Pháp lại sai một lữ-đoàn 旅 團[4] sang Bắc-kỳ và sai lục-quân trung-tướng Millot sang làm thống-đốc quân-vụ thay cho hải-quân thiếu-tướng Courbet.

Ngày 16 tháng giêng năm giáp-thân (1884), thống-tướng Millot sang nhận chức, thiếu-tướng Courbet được thăng lên hải-quân trung-tướng và lại ra coi hải-quân để giữ mặt bể. Bấy giờ quân Pháp cả thảy được hơn 1 vạn 6 nghìn người và 10 đội pháo-thủ, chia làm 2 lữ-đoàn. Một lữ-đoàn ở bên hữu ngạn sông Hồng-hà thì đóng ở Hà-nội, có thiếu-tướng Brière de l'Isle coi; một lữ-đoàn ở bên tả ngạn sông Hồng-hà, thì đóng ở Hải-dương, có thiếu-tướng De Négrier coi.

Bấy giờ con đường từ Hà-nội sang Bắc-ninh, chỗ nào cũng có quân Tàu và quân ta đóng. Thống-tướng Millot bèn truyền lệnh cho thiếu-tướng Brière de l'Isle đem quân qua sông Hồng-hà, rồi theo sông Đuống (tức là sông Thiên-đức) đi về phía đông. Còn toán quân của thiếu-tướng De Négrier ở Hải-dương, đi tàu đến Phả-lại lên bộ, để tiếp vào với toán quân của thiếu-tướng Brière de l'Isle, rồi cả thủy-bộ theo sông Cầu (sông Nguyệt-đức) tiến lên đánh Bắc-ninh.

Hai bên khởi sự đánh nhau từ ngày 11 tháng 2 đến ngày 16, thì lấy được Đáp-cầu. Quân Tàu thấy quân Pháp chặn mất đường lên Lạng-sơn, bèn bỏ Bắc-ninh rút lên mạn Thái-nguyên. Tối ngày 16, thì quân Pháp vào thành Bắc-ninh. Trận ấy quân Pháp chỉ mất có 8 người và 40 người bị thương mà thôi.

Thiếu-tướng Brière de l'Isle đem quân lên đánh Yên-thế, rồi đến ngày 23 thì lên lấy thành Thái-nguyên.

10. LẤY HƯNG-HÓA. Hạ dược thành Bắc-ninh và thành Thái-nguyên rồi, quân Pháp quay về mạn sông Hồng-hà để đánh lấy Hưng-hóa và Tuyên-quang. Thiếu-tướng Brière de l'Isle đem lữ-đoàn thứ nhất theo con đường Sơn-tây lên Hưng-hóa, rồi dàn trận ở bên này sông Đà-giang. Hai bên khởi sự đánh nhau từ sáng ngày rằm tháng 3 đến 2 giờ chiều ngày hôm ấy thì quân Pháp sang sông ở chỗ gần địa-hạt huyện Bất-bạt. Chín giờ sáng ngày 16, thì thiếu-tướng De Négrier đem lữ-đoàn thứ nhì tiếp đến, cả hai lữ-đoàn cùng hợp lực tiến lên đánh. Quân Tàu và quân cờ đen thấy thế không chống được, bèn đốt cả phố-xá, rồi bỏ thành Hưng-hóa rút lên mạn ngược. Còn bọn ông Hoàng kế Viêm thì kéo lên mạn núi, rồi đi đường thượng-đạo rút về Kinh. Trưa ngày 17 thì quân Pháp vào thành Hưng-hóa. Lập tức thiếu-tá Coronnat đem một toán quân lên đánh phá đồn Vàng.

11. LẤY TUYÊN-QUANG. Lấy xong Hưng-hóa rồi, chỉ còn có thành Tuyên-quang là chỗ quân cờ đen còn đóng giữ. Thống-tướng Millot bèn sai quân đem tàu đi dò xem sông Lô-giang tàu thủy lên được đến đâu. Đoạn rồi sai trung-tá Duchesne đem đạo quân ở Hưng-hóa và một đội năm chiếc tàu binh lên đánh Tuyên-quang. Quân của trung-tá Duchesne đóng ở Việt-trì khởi hành từ hôm mồng 3 tháng 5 đến ngày mồng 8 thì đến Tuyên-quang. Chỉ đánh độ một giờ đồng-hồ thì quân cờ đen bỏ thành chạy.

12. HÒA-ƯỚC FOURNIER. Bấy giờ tuy các tỉnh ở mạn trung-châu đất Bắc-kỳ đều thuộc về quan Pháp cai-quản cả, nhưng quân Tàu còn đóng ở Lạng-sơn, Cao-bằng và mạn Lao-kày. Bởi vậy chính-phủ Pháp muốn dùng cách giao-thiệp mà trang-trải với nước Tàu, để chính-phủ Tàu nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp ở nước Nam cho xong. Lại nhân bấy giờ có hải-quân trung-tá Pháp tên là Fournier quen một người nước Đức tên là Détring làm quan bên Tàu coi việc thương-chánh ở Quảng-đông. Détring vốn thân với quan tổng-đốc Trực-lệ là Lý hồng Chương 李 鴻 章. Một hôm Détring gặp trung-tá Fournier nói chuyện việc hòa với nước Tàu, Détring điện về cho Lý hồng Chương biết. Hai bên đều có ý muốn cho êm chuyện.

Chính-Phủ Pháp bèn sai trung-tá Fournier lên Thiên-tân để cùng với Lý hồng Chương nghị hòa. Đến ngày 18 tháng 4, năm giáp-thân (1884) thì lập xong tờ hòa-ước. Đại-lược rằng nước Tàu thuận rút quân đóng ở Bắc-kỳ về, và từ đấy về sau chính-phủ Tàu thuận nhận tờ giao-ước của nước Pháp lập với nước Nam. Nghĩa là nước Tàu để cho nước Pháp được tự-do xếp-đặt mọi việc ở đất Việt-nam.

13. HÒA-ƯỚC PATENÔTRE THÁNG 5 NĂM GIÁP-THÂN (1884). Tờ giao-ước ký xong thì trung-tá Fournier điện cho thống-tướng Millot ở Bắc-kỳ biết sự hòa-ước đã xong, mà quân Tàu ở Bắc-kỳ phải rút về.

Lúc bấy giờ công-sứ nước Pháp ở Bắc-kinh là ông Patenôtre ở bên Pháp sang, đi qua đến Sài-gòn, chính-phủ ở Paris điện sang sai ông ấy ra Huế sửa lại tờ hòa-ước của ông Harmand đã ký ngày 23 tháng 7 năm quí-mùi (1883).

Ông Patenôtre và ông Rheinart ra Huế cùng với Triều-đình thương-nghị mấy ngày, rồi đến ngày 13 tháng 5 năm giáp-thân là ngày mồng 6 tháng sáu năm 1884, ông Pate-nôtre cùng với ông Nguyễn văn Tường 阮 文 祥, ông Phạm thận Duật 范 慎 遹 và ông Tôn-thất Phan 尊 室 藩 ký tờ hòa-ước mới. Cả thảy có 19 khoản, đại-để thì cũng như tờ hòa-ước của ông Harmand, chỉ đổi có mấy khoản nói về tỉnh Bình-thuận và 3 tỉnh ở ngoài đèo Ngang là Hà-tĩnh, Nghệ-an, Thanh-hóa vẫn thuộc về Trung-kỳ.

Tờ hòa-ước ký xong, ông Rheinart ở lại làm Khâm-sứ ở Huế, và ông Patenôtre hội cả các quan, bắt đem cái ấn của Tàu phong cho vua Việt-nam, thụt bễ nấu lên mà hủy đi, nghĩa là từ đó nước Nam thuộc về nước Pháp bảo-hộ, chứ không thần-phục nước Tàu nữa.

Hòa-ước ký năm giáp-thân là năm 1884, là hòa-ước của Triều-đình ở Huế ký với nước Pháp công nhận cuộc bảo-hộ của Pháp và chia nước ra làm hai khu-vực là Trung-kỳ và Bắc-kỳ. Tuy hai kỳ cũng thuộc về quyền bảo-hộ của nước Pháp, nhưng mỗi kỳ có một cách cai-trị khác, về sau dần dần hòa-ước năm 1884 cũng mất cả ý-nghĩa, và thực quyền về chính-phủ bảo-hộ hết cả. Triều-đình ở Huế chỉ giữ cái hư-vị mà thôi.

Nước Việt-nam trước kia, từ Nam chí Bắc là một, có cái tính cách duy nhất hơn cả các nước khác. Văn-hóa, lịch-sử, phong-tục, ngôn-ngữ đều là một cả, mà nay thành ra ba xứ: Nam-kỳ, Trung-kỳ và Bắc-kỳ; mỗi kỳ có một chính-sách riêng, luật-lệ riêng như ba nước vậy. Thậm chí lúc đầu người kỳ này đi sang kỳ kia phải xin giấy thông-hành mới đi được. Kỳ nghĩa là xứ, là khu trong một nước, chứ không có nghĩa là nước.

Một nước mà tam phân ngũ liệt ra như thế, thật là một mối đau lòng cho người Việt-nam là dân một nước đã có một lịch-sử vẻ-vang hàng mấy nghìn năm.

14. VIỆC TRIỀU-CHÍNH Ở HUẾ. Triều-đình lúc bấy giờ việc gì cũng do ở hai quan phụ-chính là Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết định-đoạt.

Tôn-thất Thuyết là người tính nóng-nảy, dữ-dội, ai cũng khiếp-sợ. Nhưng tài-năng thì kém, mà lại nhát gan, cho nên đa nghi và hay chém giết. Nguyễn văn Tường là người ở Quảng-trị, thi đỗ cử-nhân năm Tự-đức thứ 5, thật là một người có tài-trí, giỏi nghề giao-thiệp, nhưng chỉ có tính tham-lam và lại tàn-nhẫn.

Hai ông ấy chuyên giữ triều-chính. Quan-lại thì ở tay ông Tường, binh-quyền thì ở tay ông Thuyết. Nhưng mà thường việc gì cũng do ở ông Thuyết xui-khiến cả. Trong Triều từ hoàng-thân quốc-thích cho đến các quan, ai có điều gì trái ý hai ông ấy là bị giam-chấp hay chém-giết cả.

Ông Thuyết thì mộ quân phấn-nghĩa để giữ mình, và thường hay tiếm dùng nghi-vệ của vua; ông Tường thì chịu tiền hối-lộ của những người Khách, cho chúng nó đem tiền sềnh, là một thứ tiền niên-hiệu Tự-đức, mỏng và xấu, đúc ở bên Tàu đem sang, bắt dân phải tiêu. Ai không tiêu thì phải tội. Vả lúc ấy vua hãy còn trẻ tuổi chưa biết gì, cho nên hai ông lại càng chuyên-chế lắm nữa.

Vua Kiến-phúc lên ngôi vừa được hơn 6 tháng, đến ngày mồng 6 tháng tư năm giáp-thân (1884) thì phải bệnh mất[5], miếu-hiệu là Giản-tông Nghị-hoàng-đế 簡 宗 毅 皇 帝.

15. VUA HÀM-NGHI. Vua Kiến-phúc mất, đáng lẽ ra con nuôi thứ hai của vua Dực-tông là ông Chánh-mông lên nối ngôi thì phải. Nhưng Tường và Thuyết không muốn lập người lớn tuổi, sợ mình mất quyền, bèn chọn người em ông Chánh-mông là ông Ưng Lịch 膺 𧰡, mới 12 tuổi, lập lên làm vua, đặt niên-hiệu là Hàm-nghi 咸 宜.

Viên Khâm-sứ Rheinart trước đã tư giấy sang cho Triều-đình Huế rằng: Nam-triều có lập ai lên làm vua, thì phải xin phép nước Pháp mới được. Nhưng Tường và Thuyết cứ tự-tiện lập vua, không cho viên Khâm-sứ biết.

Viên Khâm-sứ thấy vậy, viết thư ra Hà-nội. Thống-tướng Millot bèn sai chức tham-mưu là đại-tá Guerrier đem 600 quân và một đội pháo-binh vào Huế, bắt triều-đình phải xin phép lập ông Ưng Lịch lên làm vua. Tường và Thuyết làm tờ xin phép bằng chữ nôm gửi sang bên Khâm-sứ. Viên Khâm-sứ không nghe, bắt phải làm bằng chữ Nho. Đến ngày 27 tháng 6, đại-tá và viên Khâm-sứ đi cửa chính vào điện làm lễ phong vương cho vua Hàm-nghi. Xong rồi quân Pháp lại trở ra Hà-nội.

  1. Những chuyện ở trong Triều lúc bấy giờ, phần nhiều là lấy ở quyển « Hạnh-Thục-ca 幸 蜀 歌 » của Lễ-tân Nguyễn Nhược-thị 禮 嬪 阮 若 氏. Bà ấy là một người cung-phi của vua Dực-tông sau lại làm thư-ký cho bà Từ-dụ, cho nên những việc trong Triều bà ấy biết được rõ.
  2. Dục-đức, Chánh-mông, Dưỡng-thiện là tên nhà học của những ông Hoàng con nuôi vua Dực-tông gọi là Dục-đức đường, Chánh-mông đường, v.v. Lúc các ông Hoàng ấy chưa được phong thì người ta cứ lấy tên nhà học mà gọi.
  3. Résident tức là lưu trú-quan, nhưng lúc bấy giờ ta chưa quen dùng chữ ấy, và nhân có chữ consul cho nên mới dùng chữ công-sứ.
  4. Mỗi một lữ-đoàn (brigade) có hai vệ-quân, độ chừng bảy tám nghìn người, có chức thiếu-tướng coi. Hai lữ-đoàn là một sư-đoàn (division), có chức trung-tướng coi.
  5. Có chuyện nói rằng: Khi vua Kiến-phúc se mình, nằm trong điện, đêm thấy Nguyễn văn Tường vào trong cung, ngài có quở-mắng. Đến ngày hôm sau, thì ngài ngộ thuốc mà mất.