Vĩnh Lăng bi (Mạc Bảo Thần dịch)

Xem các bản dịch tiếng Việt khác của tác phẩm này tại Vĩnh Lăng bi.
Vĩnh Lăng bi
của Nguyễn Trãi, do Mạc Bảo Thần dịch

碑 陵 永 山 藍

 維順天六年歲次癸丑閏八月二十二日  太祖高皇帝賓天本年十月卄三日葬于藍山之永陵
帝姓黎諱右从刂左从禾  曾祖諱右从每左从言清化府人也嘗一日遊藍山見衆鳥羣飛翔繞於藍山之下若衆
 人聚會之狀此佳處也因徙家焉三年而產業成子孫日蕃奴隸日衆建邦啟土實基於此焉自
 是世爲一方 君長  皇祖諱右从丁左从氵克承其家以繼先志有衆至千餘人  皇祖妣阮氏最有
 賢行生二子長曰次曰右从廣左从日  帝之  皇考也愷悌慈祥休休樂善好養賓客鄰境之民視
 同一家是以人莫不感其恩而服其義也  皇妣鄭氏諱上从下从君勤於婦道閨門和睦家日益昌生
 三子伯曰學仲曰除季則  帝也伯受祖父之傳不幸短命  帝承祖父之業惟謹雖時遭大亂
 而志且益堅晦跡山林以稼穡爲業由其憤強賊之陵暴尤專心於韜畧之書罄竭家厚待賓客戊
 戌起集義兵屯洛水上前後數十餘戰皆設服出奇避鋭承弊以寡敵衆以弱制強丙午戰於率峒大
 捷遂進圍東都丁未賊援安遠柳升領兵十萬由廣西進國公沐晟領兵五萬由雲南進支棱一
 戰柳升授首斬賊衆數萬餘級生擒賊將黃福崔聚等三百餘人軍下三萬餘口所獲柳升勑命兵符
 送雲南軍沐晟見之舉衆宵潰斬馘生擒不可殫紀時鎮守東關城成山侯王通等先與我軍講和未
 定至是請盟於珥河之上各處鎮守城池俱開門出降凡所擒獲賊人及各城降卒該十餘萬口一皆
 放還水路送號船五百餘艘陸路應付口糧腳力戒戢軍士秋毫一無所犯兩國自是通好北南無事
 忙禮哀牢俱入版圖占城闍婆航海修貢  帝宵衣旰食凡六載而國中大治至是崩  順天六
 年癸丑十月吉日榮祿大夫入內行遣知三館事        臣阮廌奉
勑譔              翰林院待制臣武文斐奉書


DỊCH ÂM

Duy Thuận-thiên lục niên, tuế thứ Quý-sửu, nhuận bát nguyệt, nhị thập-nhị nhật.

Thái-tổ Cao hoàng Đế tân thiên. Bản niên thập nguyệt, nhị-thập tam nhật, táng vu Lam-sơn chi Vĩnh-lăng.

Đế tính Lê, húy Lợi. Tằng-tổ húy Hối. Thanh-hóa phủ nhân dã. Thường nhất nhật du Lam-sơn, kiến chúng điểu quần phi, tường nhiễu ư Lam-sơn chi hạ, nhược chúng nhân tụ hội chi trạng; viết: « Thử giai xứ dã! » Nhân tỷ gia cư yên. Tam-niên nhi sản-nghiệp thành. Tử-tôn nhật phồn; nô-lệ nhật chúng. Kiến bang, khải thổ, thực cơ ư thử yên. Tự thị thế vi nhất phương Quân-trưởng.

Hoàng-tổ húy Đinh, khắc thừa kỳ gia, dĩ kế tiên chí, hữu chúng chí thiên dư nhân.

Hoàng-tổ tỷ Nguyễn-thị, tối hữu hiền-hạnh, sinh nhị tử, trưởng viết Tòng, thứ viết Khoáng:

Đế chi

Hoàng-khảo dã: khải-để từ-tường, hưu-hưu lạc thiện, hiếu dưỡng tân-khách. Lân-cảnh chi dân, thị đồng nhất gia. Thị dĩ nhân mạc bất cảm kỳ ân nhi phục kỳ nghĩa dã.

Hoàng-tỷ Trịnh-thị húy Thương, cần ư phụ đạo. Khuê-môn hòa mục, gia nhật ích xương. Sinh tam tử: bá viết Học, Trọng viết Trừ, quý tắc.

Đế dã. Bá thụ Tổ, Phụ, chi truyền, bất hạnh đoản mệnh.

Đế thừa Tổ, Phụ chi nghiệp duy cẩn. Tuy thì tao đại-loạn nhi chí thả ích kiên. Hối tích sơn-lâm, dĩ giá-sắc vi nghiệp. Do kỳ phẫn cường-tặc chi lăng-bạo vưu chuyên tâm ư thao-lược chi thư. Khánh-kiệt gia-tư, hậu đải tân-khách.

Mậu-tuất khởi tập nghĩa binh, đồn Lạc-thủy thượng. Tiền hậu phàm sổ phập dư chiến, giai thiết phục, xuất kỳ, tỵ nhuệ, thừa tệ; dĩ quả địch chúng; dĩ nhược chế cường.

Bính-ngọ chiến ư Tốt-động, đại tiệp, toại tiến vi Đông-đô. Đinh-vỵ tặc viện An-viễn-hầu Liễu Thăng lĩnh binh thập vạn, do Quảng-tây tiến; Kiềm-quốc-công Mộc Thạnh, lĩnh binh ngũ vạn do Vân-nam tiến. Chi-lăng nhất chiến, Liễu Thăng thụ thủ; trảm tặc chúng sổ vạn dư cấp; Sinh cầm tặc tướng Hoàng Phúc, Thôi Tụ đẳng tam bách dư nhân, quân-hạ tam vạn dư khẩu. Sở hoạch Liễu Thăng sắc mệnh, binh phù, tống Vân-nam quân. Mộc Thạnh kiến chi, cử chúng tiêu hội. Trảm quắc sinh cầm, bất khả đàn kỷ. Thời trấn thủ Đông-quan thành, Thành-sơn hầu Vương Thông đẳng tiên dử ngã quân giảng hòa vi định, chí thị thỉnh minh ư. Nhị-hà chi thượng. Các xứ trấn thủ thành-trì, câu khai môn xuất hàng. Phàm sở cầm hoạch tặc nhân, cập các thành hàng tốt, cai thập dư vạn khẩu, nhất giai phóng hoàn. Thủy lộ tống hiệu thuyền ngũ bách du suu. Lục lộ ứng phó khẩu lương, cước lực. Giới trấp quân sĩ, thu-hào nhất vô sở phạm. Lưỡng quốc tự thị thông hiếu. Bắc Nam vô sự. Mang-lễ, Ai-lao, câu nhập bản-đồ; Chiêm-thành, Đồ-bà, hàng hải tu cống.

Đế tiều y hãn thực, phàm lục tải nhi quốc trung đại trị. Chí thị băng.

Thuận-thiên lục niên, Quý-sửu, Thập nguyệt, Cát nhật, Vinh-lộc Đại-phu, Nhập-nội Hành-khiển, Tri Tam Quân sự, thần Nguyễn Trãi phụng Sắc soạn.

Hàn-lâm-viện đãi-chế, thần Vũ văn Phỉ

phụng thư.

DỊCH NGHĨA

Duy hiệu Thuận-thiên năm thứ sáu, là năm Quý-sửu tháng tám nhuận, ngày hai mươi hai, đức Thái-tổ Cao-hoàng đế chầu Trời. Tháng mười năm ấy, ngày hai mươi ba, táng ở Vĩnh-lăng thuộc Lam-sơn.

Nhà-vua, họ Lê húy Lợi.

Tằng-Tổ húy Hối, là người phủ Thanh-hóa. Từng có một ngày đến chơi Lam-sơn, thấy các chim bay hàng đàn, liệng quanh ở dưới núi Lam-sơn, như vẻ đông người hội-họp; liền nói rằng: « Chỗ này tốt đây! » Nhân dời nhà đến ở. Ba năm mà gây nên sản-nghiệp; con-cháu ngày một đông; tôi-tớ ngày một nhiều. Việc dựng nước, mở đất, thực gây nền từ đó. Từ đó đời đời làm chúa một phương,

Hoàng-tổ húy Đính, nối được nghiệp nhà, để kế chí người trước, có dân đến hơn nghìn người.

Hoàng-tổ-tỷ họ Nguyễn, rất có nết hiền, sinh hai con: trưởng là Tòng, thứ là Khoáng, ấy là.

Hoàng-khảo của

Nhà-vua: hoà-nhã, hiền-lành, vui-vẻ, thích làm việc thiện, chiều-đãi khách-khứa. Dân ở cõi bên, coi cũng như một nhà. Vì thế không ai không cảm ngài vì ơn-đức và phục ngài vì nghĩa-khí.

Hoàng-tỷ họ Trịnh, húy là Thương, chăm-chỉ đạo đàn-bà; buồng-the hòa-thuận, nhà ngày càng thịnh. Sinh ba con: cả là Học, giữa là Trứ, út là Nhà-vua. Ông Cả chịu cơ-nghiệp của ông, cha truyền lại, không may ngắn số.

Nhà-vua nối nghiệp ông, cha, rất là kính-cẩn. Tuy gặp thì loạn lớn, mà chí càng bền. Lẩn dấu vào núi rừng, chăm nghề cày-cấy. Bởi ngài giận quân giặc cường-bạo lấn-hiếp, nên càng chuyên tâm về các sách thao-lược. Khánh-kiệt của nhà, hậu-đãi khách-khứa...

Năm Mậu-tuất, bắt đầu họp tập quân-nghĩa, đóng đồn trên sông Lạc-thủy. Trước sau gồm hai mươi mấy trận đánh, đều đặt mai-phục! dùng kỳ-binh; lánh quân hăng; lừa lúc mệt; lấy ít địch nhiều; lấy yếu chống mạnh.,.

Năm Bính-ngọ, đánh ở Tốt-động (giờ thuộc Hà-đông), được lớn. Bèn tiến lên vây Đông-đô (Hà-nội).

Năm Đinh-vị, quân cứu-viện của giặc là An-viễn-hầu Liễu Thăng, đem mười vạn quân từ Quảng-tây tiến sang; Kiềm-quốc-công là Mộc Thạnh, đem năm vạn quân từ Vân-nam tiến sang. Một trận đánh ở Chi-lăng, Liễu Thăng nộp đầu; chém quân giặc hơn vài vạn; bắt sống được tướng giặc là lũ Thôi Tụ, Hoàng Phúc hơn ba trăm người; quân-lính hơn ba vạn miệng. Đem sắc cùng binh-phù bắt được của Liễu Thăng đưa sang cho quân Vân-nam. Mộc Thạnh thấy thế, đem quân đêm trốn. Nào chém đầu, nào bắt sống, không thể xiết chép. Khi ấy trấn-thủ ở thành Đông-quan, là bọn Thành-sơn-hầu Vương Thông, trước đã cùng quân ta giảng hòa chưa quyết, đến bây giờ xin ra thề ở trên sông Nhị-hà. Các kẻ trấn-thủ thành-trì các nơi, đều mở cửa ra hàng.

Phàm những quân giặc bắt được, cùng lính đầu hàng ở các thành gồm hơn mười vạn miệng, nhất thiết đều tha về. Đường thủy đưa cho hơn năm trăm thuyền hiệu. Đường bộ cấp cho lương ăn cùng phu gánh. Răn-bảo quân-sĩ, mảy may không xâm-phạm một chút nào. Hai nước từ đó thông sứ hòa-hảo. Nam, Bắc yên việc. Mang-lễ, Ai-Lao, đều vào bản đồ. Chiêm-thành, Đồ-bà, vượt bể đến cống.

Nhà-vua dậy sớm, ăn trưa, gồm sáu năm mà trong nước thịnh-trị. Tới nay băng.

Thuận-thiên năm thứ sáu, Quý-sửu, tháng mười, ngày lành, Vinh-Lộc đại-phu Nhập-nội Hành-khiển, chủ việc Ba Quân, tôi là Nguyễn Trãi phụng

Sắc, soạn.

Hàn-lâm-viện đãi chế tôi là Vũ văn Phỉ
phụng viết
 Tác phẩm này là một bản dịch và có thông tin cấp phép khác so với bản quyền của nội dung gốc.
Bản gốc:

Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1929, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước.

 
Bản dịch:

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì thời hạn bảo hộ bản quyền của nó đã hết ở Việt Nam. Nếu là tác phẩm khuyết danh, nó đã được công bố lần đầu tiên trước năm 1960. Đối với các loại tác phẩm khác, tác giả (hoặc đồng tác giả cuối cùng) của nó đã mất trước năm 1974. (Theo Điều 27, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung 2009 bắt đầu có hiệu lực từ năm 2010 và điều khoản kéo dài bản quyền đối với tác phẩm khuyết danh từ 50 thành 75 năm nhưng không hồi tố)


Ngoài ra, một tác phẩm của Việt Nam thuộc phạm vi công cộng tại Việt Nam theo quy định này cũng thuộc phạm vi công cộng tại Hoa Kỳ chỉ nếu nó thuộc phạm vi công cộng tại Việt Nam vào ngày 23 tháng 12 năm 1998, tức là: tác phẩm khuyết danh đã được công bố lần đầu tiên trước năm 1948; đối với các loại tác phẩm khác, tác giả (hoặc đồng tác giả cuối cùng) của nó đã mất trước năm 1948 tác phẩm chưa bao giờ được xuất bản tại Hoa Kỳ trước ngày 23 tháng 12 năm 1998. (Theo Tuyên cáo 7161 của Tổng thống Bill Clinton áp dụng Đạo luật Thỏa thuận Vòng đàm phán Uruguay (URAA) đối với các tác phẩm được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam)