Trang:Quoc van trich diem 1930.pdf/107

Trang này cần phải được hiệu đính.
87
NGUYỄN-DU

CHÚ THÍCH. — 1. Là Liêu-dương, quê Kim-Trọng. — 2. Thân trâu ngựa: theo phép luân-hồi thời những người nào lúc sống mắc nợ ai mà chưa trả được thì đến kiếp sau phải hóa làm trâu ngựa để trả nợ cũ; trúc mai là cây trúc cây mai là hai thứ cây thường đi với nhau trong các bức họa của Tàu; đây nói người tình-nhân đã gắn bó với mình. — 3. Điển cũ: xưa có một người con gái phải lòng người lái buôn, ốm tương-tư chết. Lúc đem hỏa-táng, xương thịt cháy cả, duy trong bụng còn một cục không cháy; đến lúc người lái buôn đến khóc, nước mắt chảy xuống, cục ấy mới tan ra huyết. — 4. Tiếng đường trong nghĩa như giong: đèn thắp mãi đến lúc hết dầu, đáy đĩa phơi ra. — 5. quạt ước: cái quạt trao cho nhau để làm tin; chén thề: chén rượu cùng nhau uống để thề. — 6. Là tờ giấy viết thư có vẽ mây của người Tàu. — 7. Là cây bồ (cói), cây liễu, ví với thân người đàn bà yếu ớt. — 8. Là đền đêm, tức là âm-phủ.

79 — KIỀU Ở LẦU NGƯNG-BÍCH

TIỂU DẪN. — Kiều theo Mã-giám-Sinh đi Lâm-tri, không ngờ lại mắc vào tay Tú-Bà là người mụ dầu bắt nàng ở thanh-lâu tiếp khách; nàng bèn toan bề tự tận. Tú-Bà sợ, mới thuốc thang cho nàng khỏi, rồi để nàng ở riêng lầu Ngưng-bích, hứa sẽ tìm nơi xứng đáng mà gả cho. Đoạn này là tả nỗi buồn của nàng lúc đương ở lầu ấy mà nhớ đến cha mẹ cùng tình-nhân.

Trước lầu Ngưng-bích 1 khóa xuân 2,
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát-ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng 3,
Tin sương 4 luống những rày mong mai chờ.
Bên trời góc bể bơ-vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai!
Xót người tựa cửa hôm mai 4,
Quạt nồng ấp lạnh 5 những ai đó giờ?
Sân Lai 6 cách mấy nắng mưa,