Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt Dịch nghĩa

江城一臥閱三周
北望家鄉天盡頭
麗水錦山皆是客
白雲紅樹不勝秋
此身已作樊籠物
何處重尋汗漫遊
莫向天涯嘆淪落
何南今是帝王州

Giang thành[1] nhất ngọa duyệt tam chu
Bắc vọng gia hương thiên tận đầu
Lệ Thủy, Cẩm Sơn[2] giai thị khách
Bạch vân hồng thụ bất thăng thu
Thử thân dĩ tác phàn lung vật
Hà xứ trùng tầm hãn mạn du
Mạc hướng thiên nhai thán luân lạc
Hà Nam kim thị đế vương châu[3]

Nằm ở thành bên sông chốc đã ba năm tròn
Trông về bắc quê nhà ở tận cuối trời
Ở Lệ Thủy, Cẩm Sơn vẫn chỉ là khách
Mây trắng cây hồng bao xiết vẻ thu
Thân này đã làm vật trong lồng trong chậu
Còn tìm đâu lại cuộc chơi phóng đãng
Chớ nhìn chân trời mà than thân lưu lạc
Phía nam sông nay đã là đất của vua rồi.

   




Chú thích

  1. Thành bên sông. Đây là thành Động Hải bên sông Nhật Lệ, tức là thành Quảng Bình hiện giờ. Tại Quảng Bình, Nguyễn Du làm Cai Bạ gần bốn năm, từ 1809 đến 1813. Vậy bài này làm khoảng 1811-1812
  2. Sông Nhật Lệ và núi Cẩm Lý. Sông Nhật Lệ chảy ngang qua tỉnh lỵ, núi Cẩm Lý ở nơi ranh giới. Núi Cẩm Lý còn có tên là Ngân Sơn. Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng: "Xưa có người leo núi bị lạc đường, thoạt thấy một hòn núi sản xuất toàn bạch ngân, rất lấy làm lạ. Lúc trở về nói lại cùng người làng, rồi dẫn nhau theo đường cũ tìm lên núi thì mù mịt không thấy lối đi". Sách Ô châu cận lục nói rằng: "Cẩm Lý chung linh, túc dĩ sản bạch ngân chi dị" (nghĩa là: Núi Cẩm Lý un đúc khí linh, nên sinh ra bạc trắng rất lạ). Đó là nói về núi này
  3. Quảng Bình lúc bấy giờ là một trong bốn dinh lệ thuộc Kinh sư. Đế vương châu tức Kinh sư. Trong bài này tác giả tỏ ý chán việc làm quan muốn trở về vườn nhưng không thể về được vì tấm thân đã trở thành "chim lồng cá chậu" rồi. Rồi lại mượn cảnh Quảng Bình đã thuộc về Kinh sư, để ngụ ý rằng: "Thôi đừng than thở nữa, dù có về vườn cũng ở trong đất nhà vua. Tránh đâu cho khỏi nắng"